Tổng quan luận án
Công tác giáo dục thể chất (GDTC) trong hệ thống giáo dục đại học giữ vai trò cốt lõi trong việc bảo vệ, nâng cao sức khỏe và phát triển toàn diện nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011–2020. Tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG TP.HCM) – một trung tâm đào tạo đa ngành quy mô lớn với hơn 65.000 sinh viên tại thời điểm nghiên cứu – chương trình và nội dung môn học GDTC giữa các trường thành viên vẫn được tiến hành riêng lẻ, thiếu tính đồng bộ và chưa tối ưu hóa việc đáp ứng nhu cầu, sở thích vận động của người học. Nhằm phục vụ định hướng hình thành Trung tâm Thể dục Thể thao (TDTT) trực thuộc ĐHQG TP.HCM và nâng cao hiệu quả giảng dạy môn học, luận án tiến sĩ giáo dục học của tác giả Nguyễn Văn Thái tập trung giải quyết bài toán xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn phù hợp với điều kiện thực tế của từng đơn vị.
Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng chương trình một số môn thể thao phù hợp nhằm nâng cao thể lực và đáp ứng nhu cầu, sở thích của sinh viên, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả học tập GDTC và nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDTC cho sinh viên khối các trường thuộc ĐHQG TP.HCM.
Luận án xác định 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng thực hiện chương trình giảng dạy môn GDTC giờ tự chọn của các trường thuộc ĐHQG TP.HCM (xác định các tiêu chí đánh giá và phân tích thực trạng thực hiện nội dung môn thể thao tự chọn).
- Mục tiêu 2: Xây dựng chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn phù hợp với điều kiện của các trường và sở thích của sinh viên các trường thuộc ĐHQG TP.HCM (xác định cơ sở, nguyên tắc, nội dung chương trình, phân phối thời lượng, đề cương chi tiết và tiến trình giảng dạy).
- Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả của việc giảng dạy chương trình các môn thể thao tự chọn được xây dựng cho các trường thuộc ĐHQG TP.HCM (tổ chức thực nghiệm sư phạm, kiểm tra và so sánh kết quả trước - sau thực nghiệm).
Giả thuyết khoa học của đề tài: Xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn phù hợp với sở thích, giới tính của sinh viên ở các trường thuộc ĐHQG TP.HCM sẽ giúp sinh viên gia tăng sự hứng thú, tích cực học tập với các môn thể thao mình yêu thích; qua đó thể lực của sinh viên và chất lượng giảng dạy GDTC được cải thiện tốt hơn trong giai đoạn hiện tại.
- Đối tượng nghiên cứu: Chương trình giảng dạy một số môn thể thao tự chọn cho sinh viên.
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên, giảng viên và cán bộ quản lý tại các trường đại học thành viên thuộc ĐHQG TP.HCM.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu khảo sát tại các trường thành viên trực thuộc ĐHQG TP.HCM (gồm Trường ĐH Bách Khoa, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Quốc tế, Trường ĐH Công nghệ Thông tin, Trường ĐH Kinh tế - Luật) và tiến hành thực nghiệm sư phạm chuyên sâu tại 03 trường thành viên: Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (áp dụng môn Bóng rổ), Trường ĐH Bách Khoa (áp dụng môn Bóng chuyền), và Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (áp dụng môn Cầu lông).
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng và tổ chức thực nghiệm sư phạm trong tiến trình học kỳ môn học GDTC theo kế hoạch đào tạo của các trường.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Vấn đề phát triển chương trình giáo dục nói chung và chương trình môn học GDTC nói riêng đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu:
- Các nghiên cứu quốc tế về phát triển chương trình và GDTC:
- Robert M.: Công trình "Xây dựng và đánh giá chương trình học và môn học" trình bày việc xây dựng chương trình theo quan điểm lấy người học làm trung tâm, mối quan hệ giữa mục tiêu, môn học và giảng dạy, cùng cơ chế thực thi, cải tiến chương trình môn học.
- Allan C. Ornstein và Francis P.: Tác phẩm "Chương trình: Những cơ sở nguyên tắc, và chính sách xây dựng" làm rõ hệ thống nguyên tắc nền tảng trong hoạch định chương trình giáo dục.
- Susan Tushey (1999): Cuốn "Thiết kế môn học trong giáo dục học đại học" đưa ra mô hình, phương pháp thiết kế môn học và các chiến lược giảng dạy trong giáo dục đại học.
- Hilda Taba (1962) và Kelly A.: Các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn phát triển, thẩm định chương trình môn học.
- Noovicop A.P (1993): Khẳng định thể lực là nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động của con người và là đặc điểm cơ bản của quá trình GDTC.
- Aulic I.A: Xác lập khái niệm năng lực thể lực qua các thông số sư phạm gồm sức nhanh, sức mạnh, sức bền và khả năng phối hợp vận động.
- Schiffman & Kanuk (2001): Mô hình động cơ tham gia thể thao phản ánh tiến trình 5 giai đoạn: nhu cầu thừa nhận, giảm bớt căng thẳng, trạng thái nỗ lực, sự mong muốn và mục tiêu hướng tới hành vi.
- Các nghiên cứu trong nước:
- Vũ Đức Thu và cộng sự (1998): Công trình "Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác GDTC và phát triển TDTT trong nhà trường các cấp" khảo sát hoạt động nội khóa, ngoại khóa và đề xuất tiêu chuẩn đánh giá thực hiện công tác GDTC trường học.
- Nguyễn Trọng Hải và cộng sự (2001): "Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm xác định nội dung GDTC cho SV các trường đại học và cao đẳng Việt Nam theo định hướng nghề nghiệp" xác định cơ sở khoa học và pháp lý cho việc xây dựng nội dung môn học.
- Nguyễn Văn Thái (2006): Nghiên cứu "Thực trạng và định hướng phát triển công tác GDTC ở Đại học Cần Thơ".
- Các tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, Lưu Quang Hiệp, Nguyễn Xuân Sinh, Nguyễn Văn Đản: Đi sâu vào lý luận GDTC, bản chất của quá trình dạy học vận động, phát triển tố chất thể lực và đánh giá chất lượng đào tạo.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù lý luận về phát triển chương trình và GDTC đã có nhiều công trình đề cập, việc xây dựng một hệ thống chương trình các môn thể thao tự chọn có tính liên thông, tích hợp giữa sở thích của sinh viên, đặc điểm giới tính, đặc thù ngành học với năng lực thực tế của đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất tại khối các trường thành viên ĐHQG TP.HCM vẫn chưa được nghiên cứu và thực nghiệm hóa một cách bài bản.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống các khái niệm và cơ sở lý luận chuyên ngành Giáo dục học và TDTT:
- Khái niệm cốt lõi:
- Thể chất: Chất lượng thân thể con người, gồm thể hình, khả năng chức năng và khả năng thích ứng do bẩm sinh di truyền và quá trình rèn luyện tạo nên.
- Giáo dục thể chất (GDTC): Quá trình sư phạm giải quyết nhiệm vụ giáo dưỡng (dạy học vận động, hình thành kỹ năng, kỹ xảo) và giáo dục (phát triển các tố chất thể lực và phẩm chất ý chí).
- Thể lực: Năng lực tự nhiên của con người, được phát triển và hoàn thiện dưới tác động của lượng vận động, biểu hiện qua 5 tố chất: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo và mềm dẻo.
- Chất lượng và hiệu quả GDTC: Sự phù hợp giữa quá trình đào tạo với mục tiêu GDTC, thể hiện qua sự biến đổi về thể chất, kết quả học tập và tính tự giác, tích cực của sinh viên.
- Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi 18–22: Luận án phân tích sự ổn định hệ thần kinh, hệ tuần hoàn (mạch 70–80 lần/phút), hô hấp và cơ bắp; 5 loại động cơ học tập (xã hội, nghề nghiệp, nhận thức, tự khẳng định, vụ lợi); cùng 10 yêu cầu/nguyên tắc xây dựng chương trình thể thao tự chọn (tính pháp lý, tính lôgic lý luận, năng lực giảng viên - sân bãi, xác định nhiệm vụ, kế hoạch bài tập, chuẩn bị sân bãi, cơ sở vật chất, kế hoạch dạy học chi tiết, phương pháp dạy học tích cực, đánh giá xếp loại thể lực).
Luận án sử dụng phối hợp 5 phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Nghiên cứu các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chỉ thị của Nhà nước, quy chế của Bộ Giáo dục & Đào tạo (như Quyết định 53/2008/QĐ-BGDĐT, Chỉ thị 133/TTg, Quy chế 931/RLTC) và các công trình khoa học chuyên ngành.
- Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện bằng phiếu hỏi đối với cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên nhằm xác định tiêu chí đánh giá, nhu cầu tập luyện và đánh giá mức độ phù hợp của chương trình; kiểm định độ tin cậy thang đo (Item Statistics, Item-Total Statistics, Cronbach's Alpha).
- Phương pháp kiểm tra sư phạm: Đánh giá thể lực sinh viên theo 6 chỉ tiêu quy định tại Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT và đánh giá kỹ thuật, kết quả học tập môn GDTC.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm đối chứng song song trên các nhóm sinh viên tại 3 trường thành viên ĐHQG TP.HCM.
- Phương pháp toán học thống kê: Xử lý các tham số thống kê mô tả (trung bình $\bar{X}$, độ lệch chuẩn $S$), so sánh tương quan và kiểm định sự khác biệt trước - sau thực nghiệm giữa các nhóm.
| TT |
Tên chỉ tiêu kiểm tra thể lực (theo QĐ 53/2008/QĐ-BGDĐT) |
Ký hiệu viết tắt |
Đơn vị đo |
Tố chất thể lực đánh giá |
| 1 |
Nằm ngửa gập bụng |
NNGB |
lần/30s |
Sức mạnh - sức bền cơ bụng |
| 2 |
Bật xa tại chỗ |
BXTC |
cm |
Sức mạnh bộc phát của chân |
| 3 |
Chạy 30m xuất phát cao |
C30 |
s |
Sức nhanh |
| 4 |
Chạy con thoi 4x10m |
C4X10 |
s |
Năng lực khéo léo, đổi hướng |
| 5 |
Lực bóp thuận tay |
LBTT |
kg |
Sức mạnh tuyệt đối của cơ tay |
| 6 |
Chạy tùy sức 5 phút |
CTS5P |
m |
Sức bền chung (sức bền ưa khí) |
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chương I hệ thống hóa quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác TDTT và GDTC học đường; phân tích mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC trong trường đại học. Tác giả làm rõ cơ sở lý luận về các khái niệm thể chất, GDTC, phát triển thể chất, chất lượng dạy học và tính tự giác tích cực của người học. Chương này đi sâu phân tích đặc điểm tâm lý, sinh lý và quy luật phát triển các tố chất thể lực của sinh viên lứa tuổi 18–22. Đồng thời, chương I xác lập 10 nguyên tắc cơ sở lý luận và thực tiễn trong xây dựng chương trình thể thao tự chọn, điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để định vị hướng đi của đề tài.
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Chương II mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu là chương trình giảng dạy môn thể thao tự chọn; khách thể nghiên cứu gồm sinh viên, giảng viên và cán bộ quản lý thuộc ĐHQG TP.HCM. Tác giả trình bày quy trình triển khai 5 phương pháp nghiên cứu: tổng hợp phân tích tài liệu; phỏng vấn bằng bảng hỏi và kiểm định độ tin cậy; kiểm tra sư phạm thông qua 6 chỉ tiêu thể lực chuẩn quốc gia và điểm học phần GDTC; thực nghiệm sư phạm có đối chứng; và phương pháp toán học thống kê. Chương này cũng nêu rõ kế hoạch, tiến độ, địa điểm và các đơn vị phối hợp nghiên cứu tại các trường thành viên ĐHQG TP.HCM.
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Chương III là nội dung cốt lõi của luận án, được chia làm 3 phần tương ứng với 3 mục tiêu nghiên cứu:
1. Thực trạng thực hiện chương trình giảng dạy môn GDTC giờ tự chọn tại ĐHQG TP.HCM (Mục tiêu 1)
- Tiêu chí đánh giá và điều kiện đảm bảo: Luận án xây dựng và kiểm định độ tin cậy của các tiêu chí đánh giá công tác GDTC giờ tự chọn (Bảng 3.1 - 3.3). Đánh giá sự quan tâm của Ban Giám hiệu (Bảng 3.4), thực trạng đội ngũ giảng viên về số lượng và trình độ chuyên môn (Bảng 3.5, 3.6), và điều kiện cơ sở vật chất, sân bãi phục vụ giảng dạy tại các trường thành viên (Bảng 3.7, 3.8). Kết quả chỉ ra cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế và có sự phân hóa giữa các trường.
- Thực trạng nội dung và sự cần thiết đổi mới: Tỷ lệ giảng viên và cán bộ quản lý khẳng định tính cần thiết phải bổ sung nội dung môn học thể thao tự chọn (Bảng 3.9, 3.10) và tầm quan trọng của phát triển thể lực cho sinh viên (Bảng 3.11). Khảo sát các môn tự chọn đang giảng dạy và các môn đã xây dựng chương trình (Bảng 3.12, 3.13) cho thấy sự thiếu đồng bộ, nhiều môn chưa có chương trình chuẩn hóa.
- Thực trạng thể lực, kết quả học tập và nhu cầu sinh viên:
- Kết quả kiểm tra thể lực sinh viên qua 6 chỉ tiêu theo QĐ 53 cho thấy tỷ lệ đạt chuẩn thể lực còn thấp, thể lực chung chưa đồng đều (Bảng 3.18 - 3.20).
- Điểm trung bình và tỷ lệ xếp loại môn học GDTC còn phân tán (Bảng 3.21, 3.22).
- Mức độ hài lòng của sinh viên đối với chương trình hiện tại chưa cao (Bảng 3.23).
- Khảo sát nhu cầu và sở thích của sinh viên năm nhất xác định rõ xu hướng lựa chọn môn học: sinh viên Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn có nhu cầu cao với môn Bóng rổ; sinh viên Trường ĐH Bách Khoa ưa thích môn Bóng chuyền; sinh viên Trường ĐH Khoa học Tự nhiên lựa chọn môn Cầu lông (Bảng 3.24, 3.25, 3.27).
2. Xây dựng chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn (Mục tiêu 2)
- Luận án xác định mục tiêu chi tiết và chuẩn đầu ra dự kiến cho từng môn thể thao tự chọn (Bảng 3.27, 3.28).
- Lựa chọn nội dung chuyên môn và cấu trúc bài học:
- Môn Bóng rổ cho sinh viên Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn (Bảng 3.29).
- Môn Bóng chuyền cho sinh viên Trường ĐH Bách Khoa (Bảng 3.30).
- Môn Cầu lông cho sinh viên Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (Bảng 3.31).
- Phân phối thời lượng, số tiết, số buổi và thiết kế tiến trình giảng dạy chi tiết cho từng môn học (Bảng 3.32 - 3.38).
- Đánh giá của chuyên gia và giảng viên qua phiếu phỏng vấn khẳng định mức độ phù hợp cao về mục tiêu (Bảng 3.39), nội dung (Bảng 3.40), cấu trúc phân phối thời lượng (Bảng 3.41) và hình thức kiểm tra đánh giá của chương trình mới (Bảng 3.42).
3. Đánh giá hiệu quả thực nghiệm chương trình giảng dạy môn thể thao tự chọn (Mục tiêu 3)
- Tổ chức thực nghiệm: Luận án tiến hành phân bố mẫu thực nghiệm (N.TN) và đối chứng (N.ĐC) trên sinh viên nam và nữ tại 3 trường (Bảng 3.43):
- Trường ĐH KHXH&NV: Nhóm thực nghiệm học Bóng rổ (NV.BR) so với Nhóm đối chứng học Bóng đá (NV.BĐ).
- Trường ĐH Bách Khoa: Nhóm thực nghiệm học Bóng chuyền (BK.BC) so với Nhóm đối chứng học Bóng đá (BK.BĐ).
- Trường ĐH Khoa học Tự nhiên: Nhóm thực nghiệm học Cầu lông (TN.CL) so với Nhóm đối chứng học Bóng đá (TN.BĐ).
- Kiểm tra trước thực nghiệm (T.TN): Kết quả kiểm tra thể lực và kết quả học tập ban đầu giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng tại cả 3 trường cho thấy sự tương đương, không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê ($p > 0.05$) (Bảng 3.44 - 3.46).
- Kết quả sau thực nghiệm (S.TN):
- Về thể lực: Cả sinh viên nam và nữ ở các nhóm thực nghiệm (NV.BR, BK.BC, TN.CL) đều đạt mức tăng trưởng vượt trội ở cả 6 chỉ tiêu thể lực (NNGB, BXTC, C30, C4X10, LBTT, CTS5P) so với thời điểm trước thực nghiệm và cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng học bóng đá truyền thống (Bảng 3.47 - 3.53).
- Về kết quả học tập GDTC: Điểm thi kết thúc học phần và tỷ lệ xếp loại giỏi, khá của nhóm thực nghiệm cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng (Bảng 3.54 - 3.56).
- Về tâm lý và thái độ: Tỷ lệ sinh viên yêu thích tập luyện, mức độ hài lòng về chương trình và tính tự giác, tích cực trong giờ học của nhóm thực nghiệm đều cao hơn hẳn nhóm đối chứng (Bảng 3.57 - 3.59).
| Trường thành viên |
Ký hiệu nhóm thực nghiệm |
Môn thực nghiệm |
Ký hiệu nhóm đối chứng |
Môn đối chứng |
Tiêu chí đánh giá so sánh chính |
| ĐH KHXH & Nhân văn |
NV.BR |
Bóng rổ |
NV.BĐ |
Bóng đá |
6 chỉ tiêu thể lực (QĐ 53), KQHT GDTC, tính tự giác, mức độ hài lòng |
| ĐH Bách Khoa |
BK.BC |
Bóng chuyền |
BK.BĐ |
Bóng đá |
6 chỉ tiêu thể lực (QĐ 53), KQHT GDTC, tính tự giác, mức độ hài lòng |
| ĐH Khoa học Tự nhiên |
TN.CL |
Cầu lông |
TN.BĐ |
Bóng đá |
6 chỉ tiêu thể lực (QĐ 53), KQHT GDTC, tính tự giác, mức độ hài lòng |
Kết quả và những đóng góp mới
- Đóng góp mới về mặt lý luận:
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về phát triển chương trình môn học GDTC tự chọn trong các cơ sở giáo dục đại học.
- Xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá thực trạng và khung nguyên tắc khoa học gồm 10 bước/yêu cầu sư phạm trong việc thiết kế chương trình môn thể thao tự chọn, bảo đảm tính logic giữa mục tiêu đào tạo, đặc điểm tâm - sinh lý sinh viên và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.
- Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh toàn diện và dữ liệu thực chứng về thực trạng công tác giảng dạy GDTC giờ tự chọn, trình độ thể lực của sinh viên và điều kiện sân bãi tại các trường thành viên ĐHQG TP.HCM.
- Xây dựng hoàn chỉnh 03 chương trình môn học thể thao tự chọn gồm đề cương chi tiết, chuẩn đầu ra, phân phối thời lượng và tiến trình giảng dạy cho 03 môn: Bóng rổ (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn), Bóng chuyền (Trường ĐH Bách Khoa), và Cầu lông (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên).
- Chứng minh qua thực nghiệm sư phạm rằng việc áp dụng chương trình môn thể thao tự chọn phù hợp với sở thích và giới tính giúp cải thiện rõ rệt các tố chất thể lực (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, độ khéo léo), nâng cao kết quả học tập và gia tăng tính tích cực, tự giác của sinh viên.
- Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Đề nghị ĐHQG TP.HCM và các trường thành viên tăng cường đầu tư, quy hoạch nâng cấp sân bãi, nhà tập và trang thiết bị TDTT phục vụ giảng dạy.
- Bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giảng viên GDTC theo hướng đa môn nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy các môn tự chọn mới.
- Từng bước áp dụng thống nhất và mở rộng các chương trình thể thao tự chọn đã được xây dựng cho toàn bộ sinh viên ĐHQG TP.HCM khi Trung tâm TDTT ĐHQG TP.HCM đi vào vận hành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát và tổ chức thực nghiệm sư phạm trong phạm vi khối các trường thành viên thuộc ĐHQG TP.HCM; số lượng môn thể thao tự chọn được xây dựng đề cương chi tiết và thực nghiệm chuyên sâu mới dừng lại ở 03 môn (Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông) trên 03 trường đại học đại diện.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu xây dựng và chuẩn hóa chương trình giảng dạy cho các môn thể thao tự chọn khác (như Bơi lội, Điền kinh, Bóng bàn, các môn Võ thuật...).
- Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm đối với các trường đại học thành viên còn lại thuộc ĐHQG TP.HCM cũng như các trường đại học, cao đẳng khác trên địa bàn khu vực phía Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Giáo dục học, GDTC: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu phát triển chương trình môn học, kỹ thuật thiết kế phiếu phỏng vấn, kiểm định thang đo thống kê và phương pháp tổ chức thực nghiệm sư phạm đối chứng.
- Đối với giảng viên GDTC: Các đề cương chi tiết, phân phối thời lượng và tiến trình giảng dạy các môn Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông trong luận án có thể sử dụng trực tiếp làm tài liệu biên soạn bài giảng và giáo án thực hành.
- Đối với cán bộ quản lý đào tạo và Ban Giám hiệu các trường đại học: Luận án cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn và căn cứ khoa học phục vụ công tác quy hoạch cơ sở vật chất, phân công giảng viên và đổi mới chương trình đào tạo GDTC theo học chế tín chỉ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xây dựng chương trình giảng dạy cụ thể cho những môn thể thao tự chọn nào và áp dụng tại các trường nào?
Luận án xây dựng nội dung, đề cương chi tiết và tiến trình giảng dạy cho 03 môn thể thao tự chọn: môn Bóng rổ (áp dụng cho sinh viên Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn), môn Bóng chuyền (áp dụng cho sinh viên Trường ĐH Bách Khoa), và môn Cầu lông (áp dụng cho sinh viên Trường ĐH Khoa học Tự nhiên).
2. Luận án sử dụng những chỉ tiêu nào để kiểm tra và đánh giá trình độ thể lực của sinh viên?
Luận án áp dụng 6 chỉ tiêu đánh giá thể lực theo Quyết định s