PHẦN MỞ ĐẦU Giáo dục là nền tảng cơ bản để phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển. Bất cứ quốc gia nào muốn đạt được các mục tiêu đề ra cần phải phát triển giáo dục, bởi vì giáo dục gắn với việc đào tạo con người, nhân tố quan trọng nhất trong các nguồn lực để phát triển đất nước. Trong các bậc học ở nước ta, giáo dục đại học không chỉ giúp người học lĩnh hội tri thức ở mức độ cao nhất, sự trưởng thành về kiến thức mà còn là cơ hội để họ đạt được các mục tiêu nghề nghiệp cá nhân.
Hơn nữa, giáo dục đại học còn đào tạo ra những người lao động có giá trị làm việc, giá trị kinh tế, mức độ cống hiến, đóng góp…lớn nhất cho xã hội. Chính vì vậy, giáo dục đại học rất được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng đầu tư. Giáo dục đại học trên thế giới đã khẳng định đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một trong những phương thức có nhiều ưu thế so với phương thức đào tạo truyền thống, bởi việc tự học, tự nghiên cứu của người học được coi trọng-người học là trung tâm, độ linh hoạt của CTĐT giúp cho họ chọn được những môn học phù hợp, phát huy mạnh mẽ khả năng sáng tạo, tự chủ. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở nước ta đang được thực hiện ở bậc giáo dục đại học nhưng nhiều SV còn bỡ ngỡ và chưa thay đổi kịp với hình thức đào tạo này do không còn sự kiểm soát chặt chẽ của người dạy.
SV còn xa lạ với việc tự hoạch định nội dung và quản lý quá trình tự học của mình. Chất lượng đào tạo của từng môn học trong nhà trường phụ thuộc nhiều vào sự quản lý, điều hành trong việc xây dựng chương trình, tổ chức hoạt động giảng dạy và sự nhiệt tình của GV các môn học và tính tích cực tự giác của SV. Thực hiện chủ trương của Chính phủ và quy định của Bộ GD-ĐT, Trường ĐH TDTT Đà Nẵng đào tạo theo hệ thống tín chỉ từ năm 2013. Đào tạo theo hình thức này, thời lượng các môn học nói chung và môn CSTD 2 được rút ngắn.
Để đáp ứng yêu cầu của CTĐT, có kết quả học tập tốt cũng như nâng cao trình độ chuyên môn SV cần phải tích cực, chủ động ngoại khóa. Tuy nhiên, để ngoại khóa có hiệu quả thì cần có một nội dung phù hợp và được tổ chức chặt chẽ, bài bản. Các môn thực hành nói chung và môn chuyên sâu Thể dục (CSTD) nói riêng của Trường Đại học TDTT Đà Nẵng được tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ, đào tạo theo hình thức này sinh viên CSTD phải tích cực tự học, ngoại khóa và giảng viên cần giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm thì mới đạt hiệu quả cao, tuy nhiên khai thác triệt để hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ hay tuyên truyền, khuyến khích SV tự học, ngoại khóa chưa được chú ý quan tâm đầy đủ. Vì vậy, việc tập luyện ngoại khóa để nâng cao trình độ chuyên môn của sinh viên CSTD chỉ mang tính tự phát, chưa phát triển thành phong trào sâu rộng, hơn nữa việc chưa có một nội dung ngoại khóa phù hợp, khoa học cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc tập luyện.
Trong quá trình nghiên cứu nhằm xây dựng một hệ thống lý luận và thực tiễn của công tác đào tạo liên quan đến giờ học không chính khóa, đã có sự đóng góp rất đáng trân trọng của nhiều giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia, các nhà quản lý TDTT có kinh nghiệm như tác giả Mai Thị Thu Hà (2014) “Nghiên cứu hiệu quả tập luyện và thi đấu Thể dục Aerobic trong hoạt động ngoại khoá đối với học sinh tiểu học” [27]. Nguyễn Mạnh Hùng (2015) “Đánh giá sự hứng thú đối với môn Thể dục dụng cụ của sinh viên khoa giáo dục thể chất Trường Đại học Vinh” [37]. Phạm Việt Hùng (2015), “Thực trạng hoạt động ngoại khóa môn học thực hành của sinh viên khóa 48 ngành Quản lý Thể dục thể thao Trường Đại học TDTT Bắc Ninh” [38]. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ là định hướng mang tính 3 lý luận về cách tiếp cận các nội dung và hình thức tập luyện ngoại khóa cho học sinh, sinh viên.
Đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào xây dựng hoàn chỉnh nội dung tập luyện ngoại khóa cho sinh viên chuyên sâu Thể dục để nâng cao trình độ chuyên môn. Vì vậy, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo môn CSTD, tôi chọn đề tài: “Xây dựng nội dung ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng”. Mục đích nghiên cứu: Xây dựng nội dung ngoại khóa phù hợp cho sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng. Thông qua đó, nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh viên CSTD và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo chung của nhà trường.
Mục tiêu nghiên cứu: Để đạt được mục đích của đề tài, các mục tiêu nghiên cứu sau được đặt ra: Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng hoạt động ngoại khóa của sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng. Để thực hiện mục tiêu 1, luận án tiến hành giải quyết các nội dung sau: Thực trạng đội ngũ GV và sinh viên CSTD. Chương trình đào tạo cho sinh viên CSTD. Thực trạng kết quả học tập chuyên môn của sinh viên CSTD.
Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ công tác giảng dạy và tập luyện. Thực trạng nội dung và hình thức ngoại khóa của sinh viên CSTD. Thực trạng nhu cầu ngoại khóa của sinh viên CSTD. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động ngoại khóa của sinh viên CSTD.
Ý thức tham gia ngoại khóa của sinh viên CSTD. Mục tiêu 2: Xây dựng nội dung ngoại khóa cho sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng. Xây dựng trên cơ sở dựa vào nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa TDTT đã được áp dụng rộng rãi từ trước đến nay. 4 Xây dựng trên cơ sở phỏng vấn chuyên gia, GV và SV.
Xây dựng dựa trên kế hoạch học tập chính khóa của sinh viên CSTD. Xây dựng trên cơ sở kết quả học tập môn CSTD. Xây dựng dựa trên nhu cầu xã hội (các đơn vị sử dụng) đối với SV tốt nghiệp môn CSTD. Xây dựng được nội dung ngoại khóa phù hợp cho sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả nội dung ngoại khóa đã xây dựng cho sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng. Tiến hành thực nghiệm nội dung ngoại khóa đã xây dựng trên đối tượng sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng. Xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả nội dung ngoại khóa đã xây dựng cho sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng. Kiểm nghiệm đánh giá hiệu quả nội dung ngoại khóa đã xây dựng và hoàn thiện quá trình nghiên cứu.
Giả thuyết khoa học: Tổ chức tập luyện khoa học, bài bản các nội dung ngoại khóa đã xây dựng thì trình độ chuyên môn của sinh viên CSTD sẽ được nâng lên, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao về TDTT cho đất nước. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giáo dục đại học ở nƣớc ta. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục đại học.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, coi đó là quốc sách hàng đầu. Trước những đòi hỏi cấp bách về nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta khẳng định, một trong những nhiệm vụ cốt yếu để phát triển trí tuệ cho nhân dân là nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục-đào tạo và khoa học công nghệ. Vì vậy, từ Nghị quyết Đại hội VII, Đảng ta đã coi giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đến các kỳ Đại hội Đảng VIII, IX, X, XI, XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định đường lối phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, quán triệt quan điểm coi giáo dục-đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Trải qua các cuộc cải cách có đánh giá kết quả và đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đưa ra Kết luận số 51- KL/TW, ngày 29/10/2012 Hội nghị lần thứ 6: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo bao gồm: đổi mới tư duy; đổi mới mục tiêu đào tạo; hệ thống tổ chức, loại hình giáo dục và đào tạo; nội dung, phương pháp dạy và học; cơ chế quản lý; xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; cơ sở vật chất, nguồn lực, điều kiện bảo đảm, trong toàn hệ thống (giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, đào tạo nghề” [89]. Đặc biệt là vấn đề đổi mới giáo dục đại học, Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương khóa XI, số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 đã nêu rõ mục tiêu cụ thể: “Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học” [2]. 6 Nghị quyết trên đã nhấn mạnh, trong giáo dục đại học cần chú trọng hơn nữa đến phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của SV. Ngoài việc nâng cao kết quả học tập, tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, chủ động lập kế hoạch học tập và thực hiện, trên cơ sở đó tạo cơ hội học tập suốt đời.
Quyết định số 711/QĐ-TTg, ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục của nước ta giai đoạn 2011- 2020 đã chỉ rõ: “…đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm và khả năng thích ứng với những biến động của thị trường lao động và một bộ phận có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới” [72].