Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan 5 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả đánh giá thực trạng hiệu quả đào tạo NNL Chương 5: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo NNL ngành vận tải hành khách bằng taxi tại Tập đoàn Mai Linh 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lý thuyết về đào tạo nguồn nhân lực 2.1 Khái niệm nguồn nhân lực Quản lý nguồn nhân lực với tư cách là một chức năng kinh doanh trong tổ chức bắt nguồn và kết hợp các nhiệm vụ và hoạt động liên quan đến người lao động. Mazzarol (2003) định nghĩa nguồn nhân lực là “quá trình thu hút, phát triển và duy trì một lực lượng lao động tài năng và năng động để hỗ trợ các sứ mệnh, mục tiêu và chiến lược của tổ chức”. Tuy nhiên, định nghĩa này chỉ phản ánh phần nào cốt lõi của HRM trong một tổ chức, vì vậy Noe và cộng sự (2010) đã đưa ra một định nghĩa toàn diện hơn nói rằng nguồn nhân lực là một khái niệm mới bao gồm “các chính sách, thực hành và hệ thống ảnh hưởng đến hành vi, thái độ và hiệu suất của nhân viên”. Theo các tác giả này, một số thực hành về nguồn nhân lực quan trọng nhất hỗ trợ chiến lược kinh doanh của tổ chức là: hoạch định nguồn nhân lực, tuyển dụng và lựa chọn nhân viên, đào tạo và phát triển, quản lý hiệu suất và quản lý lương thưởng.
Như vậy, từ các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội.2 Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Quan điểm của các tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân trong giáo trình Quản Trị Nhân Lực xuất bản năm 2012 cho rằng: “Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình”. Với quan điểm này thì đào tạo cung cấp cho họ các kiến thức cả lý thuyết lẫn thực hành, là một quá trình học tập, thực hiện các hoạt động học tập giúp người lao động để họ có thể thực hiện tốt nhất công việc của mình. Ngoài những kiến thức họ đã có sẵn, đào tạo trong tổ chức là bổ sung những gì họ còn thiếu và yếu nhằm hoàn chỉnh 7 kiến thức kỹ năng để họ đáp ứng được tốt nhất yêu cầu của công việc.3 Quy trình đào tạo nguồn nhân lực Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012), trình tự xây dựng một chương trình đào tạo gồm các bước chính sau: Sơ đồ 2.1: Quy trình đào tạo nguồn nhân lực 2.1 Nhu cầu đào tạo Công tác đào tạo của tổ chức phải kết hợp chặt chẽ với quy hoạch của tổ chức và thực tiễn quản lý của tổ chức. Trước khi thực hiện đào tạo, cần phân tích xem có tất yếu phải đào tạo không, nói cách khác bước này chính là xác định tính cần thiết của hoạt động đào tạo.
Xác định thời gian, địa điểm, cá nhân, bộ phận nào cần được đào tạo. Nhu cầu đào tạo được xác định dựa trên phân tích nhu cầu lao động của tổ chức, các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng cần thiết cho việc thực hiện công việc và tích trình độ kiến thức, kỹ năng hiện có của 8 người lao động.2 Mục tiêu đào tạo Xác định mục tiêu đào tạo chính là việc xác định những kỹ năng cụ thể cần được đào tạo và trình độ kỹ năng có được sau đào tạo; số lượng, thời gian đào tạo, mục tiêu cụ thể, rõ ràng, đánh giá được. Xác định mục tiêu đào tạo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và là cơ sở để đánh giá trình độ chuyên môn của nhân viên trong tổ chức.3 Đối tượng đào tạo Là lựa chọn đối tượng đào tạo có yêu cầu, người có khả năng tiếp thu kiến thức, cũng như tiếp thu những kiến thức mới. Lựa chọn đối tượng đào tạo phải kịp thời, đáp ứng được yêu cầu công việc hiện tại và tương lai cho tổ chức.4 Xây dựng và lựa chọn phương pháp đào tạo Chương trình đào tạo được xây dựng trên cơ sở nhu cầu đào tạo và mục tiêu đào tạo đã xác định.
Căn cứ vào tình hình cụ thể về năng lực tài chính, cơ sở vật chất…để chọn phương pháp đào tạo cho phù hợp là đào tạo trong công việc hay đào tạo ngoài công việc.5 Dự tính kinh phí đào tạo Chi phí đào tạo quyết định việc lựa chọn các phương án đào tạo, bao gồm các chi phí cho việc học, chi phí cho việc đào tạo.6 Lựa chọn nhà đào tạo Bên trong tổ chức lựa chọn những người có kinh nghiệm tham gia giảng dạy. Phương án này vừa tiết kiệm chi phí vừa cung cấp cho học viên những kỹ năng thực hiện công việc có tính sát với thực tế của tổ chức. Tuy nhiên, cũng còn những hạn chế như: khó cập nhật những thông tin, kiến thức mới đồng thời có thể ảnh hưởng đến công việc mà người được chọn làm giáo viên đảm nhiệm. Bên ngoài tổ chức lựa chọn giáo viên từ cơ sở đào tạo bên ngoài.
Phương 9 án này có thể cung cấp những kiến thức, những thông tin cập nhật theo kịp được sự tiến bộ của xã hội. Tuy nhiên, phương án này có nhược điểm là chi phí cao. Giáo viên phải được tập huấn để nắm vững mục tiêu và cơ cấu của chương trình đào tạo nói chung.7 Đánh giá hiệu quả đào tạo Đánh giá hiệu quả đào tạo sẽ cho chúng ta biết chương trình đào tạo và mục tiêu đào tạo đạt đến đâu. Đánh giá hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực theo kỹ năng, chuyên môn thông qua các phương pháp trắc nghiệm, phỏng vấn, thi hoặc thông qua thái độ hành vi hay sự phản ứng của người đào tạo.
Trên thực tế, có nhiều phương pháp để đánh giá hiệu quả đào tạo cả định tính và định lượng. Nhìn chung, hiệu quả đào tạo được đánh giá qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1, học viên tiếp thu, học hỏi được gì sau khóa đào tạo? Giai đoạn 2, học viên đã áp dụng các kiến thức, kỹ năng đã học hỏi được vào trong thực tế để thực hiện công việc như thế nào? Đánh giá hiệu quả học tập trong giai đoạn 1 không khó, nhưng để đánh giá được hiệu quả của toàn khóa học lại là vấn đề phức tạp và đòi hỏi thời gian. Trong thực tế, có thể học viên lĩnh hội rất tốt các kiến thức, kỹ năng mới trong khóa học, hoàn thành xuất sắc chương trình đào tạo, nhưng không áp dụng được những gì đã học vào trong thực hiện công việc. Để tránh các lãng phí trong đào tạo, sau một phần hoặc toàn bộ chương trình đào tạo, cần thiết có sự đánh giá về kết quả đào tạo (giai đoạn 1), xem xét lại mức độ thỏa mãn các mục tiêu của đào tạo và đưa ra những điều chỉnh thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo cho những chương trình đào tạo sau (Trần Kim Dung, 2018).2 Các nghiên cứu liên quan Đào tạo nguồn nhân lực là một trong những vấn đề được nhiều tổ chức quan tâm, không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn Thế giới.
Chính vì thế, có rất nhiều các công trình nghiên cứu đã đi sâu nghiên cứu đề tài này, cả hàn lâm và ứng dụng. 10 Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, tác giả nhận thấy đa số các nghiên cứu đều đi theo 02 hướng chính. Một là, xem xét các chương trình đào tạo đã qua và đánh giá hiệu quả đạt được. Hai là, sử dụng kết quả của nghiên cứu để đưa ra thiết kế đào tạo chuẩn áp dụng trong doanh nghiệp.
Cả hai hướng đi đều làm rõ được các vấn đề lý thuyết liên quan đến hoạt động đào tạo nguồn nhân lực như: Khái niệm NNL, đào tạo NNL, tầm quan trọng của công tác đào tạo NNL, quy trình đào tạo NNL, … Sau đây, tác giả xin được liệt kê một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu, có nhiều đóng góp trên cả mặt lý luận và thực tiễn được kế thừa trong luận văn này: 2.1 Nghiên cứu của Amiresmaili và cộng sự (2019) Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của khóa học hồi sức tim phổi (CPR) như một chương trình đào tạo tại chức, dựa trên mô hình Kirkpatrick. Nghiên cứu này được thực hiện tại Bệnh viện Afzalipour của Kerman, Iran từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015. Mẫu nghiên cứu bao gồm 45 y tá, trong đó có 20 y tá trong nhóm trường hợp và 25 y tá trong nhóm đối chứng. Nhóm trường hợp đã tham gia một hội thảo đào tạo về CPR kéo dài 4 giờ.
Mô hình Kirkpatrick được sử dụng để xác định hiệu quả của khóa đào tạo CPR. Dữ liệu được thu thập bằng ba bảng câu hỏi và hồ sơ bệnh viện. Những người tham gia đều hài lòng với khóa đào tạo và có sự khác biệt đáng kể về điểm số chủ đề của ba khoảng đánh giá mức độ học tập (P <0,0001). Dựa trên các phát hiện, việc đào tạo CPR đã ảnh hưởng đến trình độ học tập của các y tá trong nhóm trường hợp; tuy nhiên, điểm học tập trung bình không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm (P = 0,26).
Ngoài ra, sự khác biệt về điểm trung bình của mức độ hạnh kiểm trước và sau khi đào tạo không có ý nghĩa (P = 0,91). Kết quả của bài kiểm tra Chi-square cũng cho thấy rằng việc đào tạo CPR không ảnh hưởng đến cấp độ thứ tư (P = 0,54). Cuối cùng, hiệu quả chung của khóa đào tạo CPR được ước tính là 32,51%. Dựa trên các kết quả nghiên cứu hiện tại, hiệu quả của việc đào tạo tại chức cho y tá chưa ở mức khả quan, đặc biệt là ở các cấp độ cao hơn của mô hình Kirkpatrick.
Do đó, cần phải sửa đổi lớn đối 11 với nội dung và quy trình của các khóa đào tạo này, cũng như các phương pháp đánh giá. Theo truyền thống, đào tạo tại chỗ tập trung vào mức độ phản ứng để đánh giá các khóa đào tạo, điều này dường như không hiệu quả.