Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Du lịch là một trong những lĩnh vực chiếm vai trò chủ đạo trong ngành dịch vụ, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển KT - XH của nhiều quốc gia. Chính vì vậy, du lịch là một vấn đề được sự quan tâm nghiên cứu, khảo sát của nhiều cá nhân và tổ chức trên thế giới.
Nicola S Pocock, Kai Hong Phua (2011), “Medical tourism and policy implications for health systems: a conceptual framework from a comparative study of Thailand, Singapore and Malaysia” (Du lịch chữa bệnh và những gợi ý về chính sách đối với hệ thống y tế: từ nghiên cứu so sánh của Thái Lan, Singapore và Malaysia) [224. Các tác giả khẳng định du lịch y tế là một xu hướng đang phát triển có nhiều tác động về chính sách đối với hệ thống y tế, đặc biệt là điểm đến du lịch của các quốc gia: “Nhu cầu ngày càng tăng đối với các dịch vụ du lịch y tế, chăm sóc sức khỏe là một xu hướng có tính toàn cầu, gắn liền với sự phát triển kinh tế, tăng thu nhập, nâng cao giáo dục và đời sống của con người” [224. Các tác giả đưa ra những định nghĩa về du lịch chữa bệnh, khách du lịch y tế, phân tích thực nghiệm nhằm làm rõ hơn về tác động ảnh hưởng của du lịch chữa bệnh đối với các hệ thống y tế ở các quốc gia, “Du lịch chữa bệnh có thể mang lại lợi ích kinh tế cho quốc gia, các nguồn lực cho đầu tư trong chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, cần được quản lý và quy định về mặt chính sách, về tài chính của du lịch y tế cho các hệ thống y tế và sử dụng dịch vụ y tế của dân địa phương” [224.
Mandal Purnendu, Vong John (2016), Development of tourism and the hospitality industry in Southeast Asia (Sự phát triển của ngành công nghiệp du lịch và ngành công nghiệp dịch vụ khách hàng ở Đông Nam Á) [223. Các tác 6 giả tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về ngành du lịch và dịch vụ khách hàng ở các nước Đông Nam Á, đồng thời đưa ra các định hướng tương lai cho ngành du lịch: “Hợp tác kinh tế mở rộng sẽ đẩy nhanh sự phát triển của ASEAN. AEC sẽ được thúc đẩy loại bỏ thuế quan, các rào cản phi thuế quan đối với thương mại, tự do di chuyển vốn, hàng hóa, lao động và con người. Đối với các nước ASEAN, du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn có ý nghĩa đối với xã hội, văn hóa” [223.
Nội dung cuốn sách làm rõ vai trò quan trọng của ngành du lịch và dịch vụ khách hàng trước những thay đổi nhanh chóng về KT - XH và văn hóa ở Đông Nam Á: “Với những cải cách kinh tế gần đây ở Việt Nam, Campuchia và Myanmar để hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, du lịch đã trở thành lĩnh vực trọng tâm được chú ý với nhiều khu nghỉ dưỡng biển tiềm năng sẽ được phát triển ở các vùng ven biển của các quốc gia này” [223. Rindrasih Erda, Witte P, Spit T, Zoomers A (2019), “Tourism and Disasters: Impact of Disaster events on Tourism development in Indonesia (1998 - 2016) and Structural Approach Policy Responses” (Du lịch và các thảm họa: Tác động của các thảm họa đối với phát triển du lịch ở Indonesia (1998 - 2016) và các chính sách ứng phó) [225. Các tác giả nhấn mạnh trong gần hai thập kỷ, các thảm họa đã ảnh hưởng tiêu cực đến nhũng điểm du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Indonesia: “Trong những năm gần đây, Indonesia đã phải hứng chịu nhiều thiên tai, ngày càng gia tăng cả về tần suất và số lượng nạn nhân” [225. Mặc dù, được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tuy nhiên còn ít nghiên cứu đến tác động của các thảm họa diễn ra trong nhiều năm đối với ngành du lịch ở một quốc gia cụ thể.
Các tác giả làm rõ về mối quan hệ giữa hoạt động của ngành du lịch và các thảm họa, xem xét các tác động ảnh hưởng của nó đối với ngành du lịch ở Indonesia; đồng thời, nhấn mạnh tác động từ các chính sách của Indonesia về lĩnh vực du lịch sau nhiều thảm họa xảy ra. Các tác giả phân tích kết quả hoạt động của ngành du lịch trong những 7 năm (1998 - 2016), bằng cách sử dụng các số liệu như: lượng khách du lịch đến, thu nhập quốc gia/vùng du lịch và tỷ lệ phòng khách sạn có khách đến. Qua nghiên cứu, các tác giả khẳng định việc đối phó với các thảm họa, mất nhiều thời gian để khắc phục và cần có các chính sách của quốc gia nhằm đối phó kịp thời để tiếp tục duy trì phát triển các hoạt động du lịch. Kozak Nazmi, Kozak Metin (2019), Tourist destination management (Quản lý điểm đến du lịch) [221.
Các tác giả đã trình bày một số vấn đề về sử dụng truyền thông xã hội của các tổ chức quản lý điểm đến; khám phá sự hài lòng của khách du lịch và mức độ trung thành của khách du lịch với điểm đến, “Những thông tin đầy đủ, chính xác về điểm đến trước khi trải nghiệm trong kỳ nghỉ đều góp phần làm tăng mức độ hài lòng về chuyến đi của du khách” [221.75]; phân tích nhân tố năng lực cạnh tranh của một điểm đến du lịch đang hoạt động; ẩm thực là một thành phần trong tiếp thị điểm đến: “Trong những năm gần đây, tầm quan trọng ngày càng tăng của du lịch ẩm thực như là một công cụ tiếp thị điểm đến để đạt được sự độc đáo và khác biệt” [221.123]; làm rõ thực trạng trong quản lý điểm đến du lịch. Bên cạnh đó, các tác giả còn đề cập đến các vấn đề khác, như: quản trị, liên kết hợp tác, sử dụng phương tiện truyền thông xã hội và phát triển bền vững du lịch. Luo Yuhua, Jiang Jinbo, Bi Doudou (2020), Tourism product development in China, Asian and European countries (Phát triển sản phẩm du lịch ở Trung Quốc, các nước châu Á và châu Âu) [222. Cuốn sách được biên tập từ các tham luận chọn lọc từ Hội nghị Quốc tế về du lịch và khách sạn lần thứ 9 giữa Trung Quốc và Tây Ban Nha (www.org), các đại biểu đến từ 18 quốc gia, hoạt động trong nhiều lĩnh vực, như: các nhà nghiên cứu hàn lâm, nghiên cứu sinh, cơ quan quản lý chính phủ và các doanh nghiệp trong ngành du lịch.
Nội dung cuốn sách trình bày những phân tích về các loại sản phẩm du lịch ở Trung Quốc, các nước châu Á và châu Âu có sử dụng công nghệ thông tin tiên tiến, phương pháp hiện đại (các sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch giải trí, du lịch 8 thể thao, du lịch mạo hiểm, du lịch chữa bệnh), phân tích yếu tố động cơ du lịch: “Những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ du lịch của du khách châu Á, đặc biệt là cảm hứng du lịch mạo hiểm của giới trẻ, bao gồm khả năng kinh tế, ngân sách, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, thời gian du lịch, giáo dục, sự hấp dẫn của điểm đến, tương tác và giao tiếp văn hóa toàn cầu” [222. Tác giả trình bày nghiên cứu về du lịch nông thôn ở Nhật Bản, làm rõ nhiều hoạt động đa dạng liên quan đến du lịch nông thôn được thực hiện bởi các hộ nông dân và doanh nghiệp, tác giả cho rằng: “Nhật Bản vẫn đang trong quá trình chuyển đổi từ du lịch nông thôn kiểu cũ được xem là một hoạt động kinh doanh phụ, chất lượng thấp của nông dân vào mùa Đông sang du lịch nông thôn hiện đại mang đến nhiều du khách cho du lịch nông thôn” [226. Tác giả khẳng định du lịch nông thôn dựa vào cộng đồng đang thu hút sự quan tâm ngày càng lớn ở cả các nước phát triển và đang phát triển, vì du lịch được coi là một giải pháp hiệu quả để thúc đẩy nông thôn phát triển. Bên cạnh việc đề cập đến các cộng đồng nông nghiệp khép kín, truyền thống, tác giả còn trình bày về sự phát triển các cộng đồng du lịch mới, được thành lập bởi các tổ chức phi lợi nhuận ở địa phương, mạng lưới nông dân trong nước, những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch cho du khách.
Những cộng đồng đó đang thúc đẩy hoạt động kinh doanh du lịch ở nông thôn, nhằm tạo ra mối liên hệ bền vững giữa thành thị và nông thôn. Balasingam Ann Selvaranee, Ma Yue (2022), Asian tourismsustainability (Tính bền vững của du lịch châu Á) [220. Các tác giả trình bày trong cuốn sách các bài viết, tập trung nghiên cứu sự phát triển du lịch bền vững trong các bối cảnh khác nhau ở một số nước châu Á (Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Campuchia); từ những quan điểm của các bên liên quan, đến các vấn đề tồn tại trên thị trường, tác động của COVID -19 đối với tính bền vững của ngành du lịch: “Khái niệm du lịch bền vững được đề cao vào nửa cuối 9 năm 2020 với khẩu hiệu “Trạng thái bình thường mới”, có ba vấn đề nổi bật: giãn cách xã hội, các quy trình về sức khỏe, vệ sinh, và chất lượng du lịch” [220.121]; các vấn đề của du lịch bền vững ở châu Á: “Sự đánh đổi trong phát triển du lịch giữa lợi ích ngắn hạn (việc làm, doanh thu, đóng góp vào GDP, tăng trưởng kinh tế), lợi ích dài hạn (môi trường sống, bảo vệ di sản văn hóa) là một trong những vấn đề quan trọng nhất” [220. Các tác giả nhấn mạnh: “Các homestay ở Malaysia là một sản phẩm du lịch bền vững dựa vào cộng đồng, sự thành công dựa trên việc áp dụng có hiệu quả các đặc điểm chính về du lịch dựa vào cộng đồng, phát triển du lịch bền vững” [220.
Các nghiên cứu ở Việt Nam 1. Các nghiên cứu về phát triển du lịch nói chung ở phạm vi cả nước Lê Huy Bá (2006), Du lịch sinh thái [2. Tác giả nhấn mạnh du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng đã nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu. Tác giả khẳng định, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái, tuy nhiên “…loại hình du lịch này ở Việt Nam mới chỉ chú trọng đến các mục tiêu về môi trường và về sức khỏe, chứ chưa mang ý nghĩa giáo dục về trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường tự nhiên và phát huy những giá trị văn hóa cao đẹp của các dân tộc cùng các ích lợi khác” [2.