Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2010 đến năm 2020" do nghiên cứu sinh Hồ Bá Tú thực hiện là luận án tiến sĩ thuộc ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Đề tài tiếp cận quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội của tổ chức Đảng địa phương thông qua một ngành kinh tế cụ thể là du lịch trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án xác định du lịch giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế, đóng góp lớn vào tổng sản phẩm nội địa và hỗ trợ công tác bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4 năm 2001), Đảng đã định hướng phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tiếp tục được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Bộ Chính trị. Nghệ An là địa phương có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước, thuộc vùng du lịch Bắc Trung Bộ, sở hữu hệ thống tài nguyên thiên nhiên phong phú và di sản văn hóa đa dạng như Khu di tích Kim Liên, Đảo chè Thanh Chương, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An. Giai đoạn 2010 - 2020, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã ban hành nhiều chủ trương nhằm phấn đấu đưa địa phương trở thành trung tâm dịch vụ, du lịch của vùng Bắc Trung Bộ. Mặc dù lượng khách và doanh thu có mức tăng trưởng khá, hoạt động du lịch tại Nghệ An đến năm 2020 vẫn bộc lộ những điểm nghẽn: mức độ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa xây dựng được sản phẩm mang thương hiệu nổi bật tầm quốc gia, công tác xúc tiến quảng bá chưa đi vào chiều sâu và tỷ trọng đóng góp của du lịch trong cơ cấu kinh tế toàn tỉnh còn khiêm tốn. Tác giả luận án khẳng định trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình khoa học độc lập nào khảo cứu có hệ thống và toàn diện quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo phát triển du lịch giai đoạn 2010 - 2020 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2010 đến năm 2020, qua đó đúc kết một số kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo, vận dụng cho thực tiễn phát triển du lịch địa phương trong thời gian tiếp theo. Để thực hiện mục đích này, luận án giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
- Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2010 đến năm 2020.
- Phân tích, luận giải có hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về phát triển du lịch từ năm 2010 đến năm 2020, qua hai giai đoạn: (2010 - 2015) và (2015 - 2020).
- Nhận xét và đúc kết kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2010 đến năm 2020.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về phát triển du lịch trong mười năm từ 2010 đến 2020.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên 3 phương diện:
- Về nội dung: Khảo cứu hệ thống chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An (bao gồm phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp) và sự chỉ đạo phát triển du lịch trên 5 lĩnh vực trọng tâm: (1) Công tác tuyên truyền, kiện toàn bộ máy quản lý, ban hành cơ chế, chính sách phát triển du lịch; (2) Công tác quy hoạch, thanh tra, kiểm tra hoạt động du lịch; (3) Xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch; (4) Xúc tiến, quảng bá, phát triển sản phẩm, loại hình du lịch; (5) Phát triển nguồn nhân lực du lịch.
- Về thời gian: Tập trung trong khung thời gian 2010 - 2020, tương ứng với hai nhiệm kỳ Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVII (2010 - 2015) và lần thứ XVIII (2015 - 2020), có liên hệ bối cảnh lịch sử trước năm 2010 và mở rộng nhận định sau năm 2020 để bảo đảm tính liên tục của tiến trình.
- Về không gian: Nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn tỉnh Nghệ An, đồng thời sử dụng tư liệu và số liệu phát triển du lịch của hai địa phương giáp ranh là tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Hà Tĩnh để đối chiếu, so sánh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả luận án đã tiến hành khảo cứu, phân loại và đánh giá dung lượng học thuật từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài.
Các nghiên cứu quốc tế
Các nghiên cứu ở nước ngoài tập trung vào lý luận quản trị điểm đến, các mô hình phát triển du lịch chuyên biệt và phương thức ứng phó khủng hoảng:
- Nicola S Pocock và Kai Hong Phua (2011) nghiên cứu so sánh mô hình du lịch y tế tại Thái Lan, Singapore và Malaysia, phân tích tác động chính sách đối với hệ thống y tế công và việc quản lý nguồn lực tài chính y tế.
- Mandal Purnendu và Vong John (2016) phân tích sự phát triển của ngành du lịch và khách sạn ở Đông Nam Á, chỉ ra xu thế tự do hóa thương mại trong AEC và sự chuyển dịch kinh tế biển tại Việt Nam, Campuchia, Myanmar.
- Rindrasih Erda, Witte P, Spit T và Zoomers A (2019) khảo cứu tác động của thiên tai đến ngành du lịch Indonesia giai đoạn 1998 - 2016 thông qua các chỉ tiêu về lượng khách, doanh thu và tỷ lệ phòng lưu trú.
- Kozak Nazmi và Kozak Metin (2019) phân tích năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch, sự hài lòng và trung thành của du khách, cùng vai trò của ẩm thực và mạng xã hội trong tiếp thị điểm đến.
- Luo Yuhua, Jiang Jinbo và Bi Doudou (2020) phân tích các dòng sản phẩm du lịch tại Trung Quốc, châu Á và châu Âu, động cơ du lịch của giới trẻ và mô hình phát triển du lịch nông thôn hiện đại tại Nhật Bản dựa vào cộng đồng và tổ chức phi lợi nhuận.
- Balasingam Ann Selvaranee và Ma Yue (2022) nghiên cứu tính bền vững của du lịch châu Á trong bối cảnh đại dịch COVID-19, phân tích sự đánh đổi giữa lợi ích kinh tế ngắn hạn và bảo tồn môi trường, cùng mô hình homestay cộng đồng tại Malaysia.
Các nghiên cứu tại Việt Nam trên phạm vi cả nước
Nhóm nghiên cứu này cung cấp cơ sở lý luận về quy hoạch, chính sách và vai trò của du lịch đối với nền kinh tế:
- Lê Huy Bá (2006) xác định bản chất của du lịch sinh thái là gắn kết giữa thiên nhiên, văn hóa bản địa, giáo dục môi trường và sự tham gia của cư dân địa phương.
- Bùi Thị Hải Yến (2008) phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quy hoạch du lịch tại Việt Nam, nhấn mạnh quy hoạch phải đi trước một bước và hướng tới sự phát triển bền vững.
- Nguyễn Quyết và Võ Thanh Hải (2015) ứng dụng mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas để lượng hóa sự đóng góp của du lịch đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn.
- Nguyễn Văn Tuấn (2015) chỉ ra những bất cập về phối hợp liên ngành, hiệu lực quản lý nhà nước và hạ tầng thiếu đồng bộ của du lịch Việt Nam, đề xuất nhóm giải pháp nâng cao nhận thức và quản trị nhà nước.
- Nguyễn Tuấn Dũng (2016) làm rõ mối quan hệ giữa phát triển kinh tế du lịch biển đảo với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh trong bối cảnh hội nhập.
- Phan Huy Xu và Võ Văn Thành (2018) tổng kết 30 năm đổi mới ngành du lịch Việt Nam, nhận diện các vấn đề ô nhiễm môi trường, hạ tầng và yêu cầu ứng dụng lý thuyết du lịch hiện đại.
- Nguyễn Thế Thi (2020) nghiên cứu lịch sử sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với phát triển du lịch giai đoạn 2006 - 2015, đúc kết 4 bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước, phối hợp ngành, khai thác tiềm năng văn hóa và xúc tiến quảng bá.
- Nguyễn Thanh Loan (2020) đề xuất chính sách quy hoạch và đào tạo nhân lực để nhân rộng mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc.
- Phan Huy Xu và Nguyễn Tuyên Linh (2021) khảo cứu việc chuyển đổi số trong các doanh nghiệp du lịch, kiến nghị giải pháp xây dựng tư duy số và phát triển hệ sinh thái số.
- Lê Thị Phương (2021) phân tích thiệt hại về doanh thu và lượng khách trong hai năm 2019 - 2020 do COVID-19, đề xuất chính sách thích ứng an toàn.
- Hồ Quế Hậu (2021) nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho du lịch Việt Nam thông qua hạ tầng lưu trú và liên kết vùng.
Các nghiên cứu về du lịch tại các vùng, miền và địa phương
- Hà Văn Hội và Vũ Quang Kết (2010) khảo cứu các giải pháp phát triển du lịch bền vững tại Thủ đô Hà Nội thông qua mô hình làng nghề và du lịch sinh thái.
- Nguyễn Thị Hồng Lâm (2013) phân tích kinh tế du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ dưới góc độ kinh tế chính trị, làm rõ quan hệ kinh tế giữa du khách, doanh nghiệp, chính quyền và dân cư.
- Nguyễn Quyết Thắng (2017) đề xuất 6 nhóm giải pháp liên kết vùng và hoàn thiện quy hoạch du lịch bền vững cho vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Đoàn Thị Trang (2017) phân tích thực trạng kinh tế du lịch ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
- Đinh Văn An (2018) tổng kết 25 năm Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch (1991 - 2015), đúc kết 5 bài học về xã hội hóa đầu tư và liên kết vùng.
- Nguyễn Thị Thúy Duyên (2019) phân tích thực trạng du lịch biển Hà Tĩnh sau sự cố môi trường biển, đề xuất giải pháp khôi phục hạ tầng và xây dựng thương hiệu.
- Lê Hoằng Bá Huyền (2019) nghiên cứu cơ chế thu hút nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước đầu tư phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030.
- Lưu Thế Vinh và Phạm Thị Thu Hương (2019) đánh giá kết quả triển khai Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 15 tháng 7 năm 2016 của Tỉnh ủy Phú Thọ về phát triển du lịch giai đoạn 2016 - 2020.
- Nguyễn Thị Minh Phượng (2020) phân tích chuỗi sản xuất và cung ứng sản phẩm hàng hóa đặc trưng phục vụ du lịch tại tỉnh Quảng Bình.
Các nghiên cứu chuyên biệt về du lịch tỉnh Nghệ An
- Nguyễn Thị Hoài (2011) khảo cứu thực trạng du lịch ven biển Nghệ An giai đoạn 2000 - 2010 tại 4 địa phương Cửa Lò, Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc.
- Trần Thị Hồng và Nguyễn Thanh Tưởng (2014) phân tích tính thời vụ trong hoạt động du lịch tại thị xã Cửa Lò và đề xuất giải pháp đa dạng hóa tour tuyến trái mùa.
- Nguyễn Tư Lương (2015) nghiên cứu chiến lược phát triển du lịch bền vững tỉnh Nghệ An đến năm 2020, làm rõ hạn chế về quy hoạch và sản phẩm.
- Thái Thị Kim Oanh (2015) đánh giá năng lực cạnh tranh của du lịch biển đảo Nghệ An dựa trên mô hình cung - cầu, đề xuất 4 nhóm giải pháp chính sách.
- Nguyễn Xuân Thanh (2015) kiểm định mô hình định lượng về 4 yếu tố hình ảnh điểm đến Nghệ An (cơ sở hạ tầng, chi phí hợp lý, sức hấp dẫn điểm đến, bầu không khí du lịch) tác động đến lòng trung thành của du khách.
- Bùi Đình Sâm (2017) phân tích tiềm năng các tuyến du lịch văn hóa - lịch sử gắn liền với cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nghệ An.
- Bùi Văn Hào và Nguyễn Thị Thanh Thanh (2019) đề xuất giải pháp xây dựng thành phố Vinh thành trung tâm phân phối và lưu trú du khách vùng Bắc Trung Bộ.
- Trần Thị Thủy (2019) phân tích thực trạng và giải pháp đào tạo nhân lực du lịch cộng đồng gắn với văn hóa dân tộc Thái tại huyện Con Cuông.
- Nguyễn Văn Thành (2020) nghiên cứu chính sách thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp vào ngành du lịch tỉnh Nghệ An đến năm 2030.
- Nguyễn Thị Trang Nhung và Phạm Hồng Long (2020) xây dựng các mô hình du lịch nông nghiệp gắn với chương trình nông thôn mới tại Nghệ An giai đoạn 2020 - 2025.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn các công trình tiếp cận lĩnh vực du lịch Nghệ An từ góc độ kinh tế học, quản trị kinh doanh, địa lý du lịch hoặc nghiên cứu cục bộ từng loại hình sản phẩm, phạm vi không gian hẹp. Dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chưa có công trình nào phản ánh một cách toàn diện, hệ thống và độc lập tiến trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An hoạch định chủ trương và trực tiếp chỉ đạo phát triển ngành du lịch xuyên suốt thập niên 2010 - 2020. Đây chính là khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội và kinh tế du lịch. Luận án vận dụng trực tiếp các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, XI, XII của Đảng, Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, và Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 30 tháng 7 năm 2013 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020.
- Khung phân tích: Tiếp cận đối tượng theo tiến trình lịch sử, phân tích mối tương quan giữa sự biến đổi bối cảnh khách quan (quốc tế, trong nước, địa phương) với quá trình chuyển biến nhận thức, hoạch định chủ trương của Tỉnh ủy Nghệ An và kết quả chỉ đạo thực tiễn trên 5 trụ cột ngành du lịch.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính đặc thù của khoa học lịch sử:
- Phương pháp lịch sử: Đóng vai trò chủ đạo nhằm phục dựng trung thực, sinh động và tuần tự tiến trình ban hành chủ trương, các quyết sách chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An qua hai mốc thời gian: 2010 - 2015 và 2015 - 2020, gắn liền với các sự kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
- Phương pháp lôgic: Khái quát bản chất của quá trình lãnh đạo, phân tích mối quan hệ nhân quả giữa chủ trương và kết quả thực tế, đánh giá ưu điểm, hạn chế và đúc kết các quy luật, bài học kinh nghiệm.
- Các phương pháp hỗ trợ: Phương pháp so sánh (đối chiếu thành tựu, chỉ số du lịch của Nghệ An với Thanh Hóa, Hà Tĩnh); phương pháp thống kê (xử lý các bảng số liệu về khách du lịch, doanh thu, hạ tầng lưu trú); phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu văn bản.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn kiện chỉ đạo: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVII và XVIII; các nghị quyết chuyên đề, chỉ thị, đề án, kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; văn bản pháp quy của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An; các báo cáo sơ kết, tổng kết của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (sau là Sở Du lịch) Nghệ An.
- Dữ liệu thống kê: Số liệu công bố chính thức từ Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Nghệ An từ năm 2010 đến năm 2020.
- Tư liệu thực địa: Dữ liệu khảo sát, ghi chép và kết quả phỏng vấn các nhà quản lý, doanh nghiệp du lịch do tác giả thực hiện.
Nội dung chính theo từng chương
Cấu trúc nội dung chính của luận án được trình bày trong 4 chương (8 tiết):
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Chương này thực hiện việc hệ thống hóa toàn bộ các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước về phát triển du lịch nói chung và du lịch Nghệ An nói riêng. Tác giả phân tích những giá trị khoa học về mặt tư liệu, cách tiếp cận và nội dung của các nghiên cứu đi trước; đồng thời khẳng định tính mới của đề tài và xác định 3 nhóm nội dung trọng tâm cần giải quyết: làm rõ các yếu tố tác động, phân tích hệ thống chủ trương - sự chỉ đạo qua 2 giai đoạn, và đánh giá ưu khuyết điểm để rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử.
Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH (2010 - 2015)
Chương 2 làm rõ bối cảnh tác động và thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh khóa XVII:
- Bối cảnh tác động: Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu giai đoạn 2010 - 2015; sự cạnh tranh điểm đến gay gắt trong khối ASEAN; các định hướng từ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của Đại hội XI và Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về tỉnh Nghệ An; các quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 2473/QĐ-TTg, Quyết định số 201/QĐ-TTg, Quyết định số 2161/QĐ-TTg quy hoạch du lịch Bắc Trung Bộ, Nghị quyết số 92/NQ-CP).
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An: Tác giả trình bày các dữ liệu thực địa về tài nguyên và hạ tầng địa phương:
| Nhóm điều kiện |
Các dữ liệu và số liệu thực tế được xác định trong luận án |
| Vị trí & Địa hình |
Diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước; 82 km bờ biển; 419,5 km biên giới giáp 3 tỉnh của Lào (Xiêng Khoảng, Hủa Phăn, Bô Ly Khăm Xay) qua các cửa khẩu Nậm Cắn, Thanh Thủy, Cao Vêu, Thông Thụ; địa hình chia cắt phức tạp với hệ thống núi đá vôi, hang Thẩm Ồm, hang Bua. |
| Tài nguyên thiên nhiên |
Lưu vực Sông Cả/Sông Lam dài 513 km (chảy qua Việt Nam 361 km); Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An (công nhận năm 2007) rộng hơn 1,3 triệu ha trên 9 huyện miền núi (Vườn quốc gia Pù Mát 93.523 ha, Pù Huống 41.127 ha, Pù Hoạt trên 34.723 ha); thác Khe Kèm, Xao Va; suối khoáng nóng Giang Sơn, Bản Khạng; bãi biển Cửa Lò, Bãi Lữ, Diễn Thành, Quỳnh Bảng. |
| Dân số & Xã hội |
Dân số 2.912.027 người (đứng thứ 4 cả nước), cư dân thành thị 379.883 người, nông thôn 2.532.144 người; người Kinh chiếm hơn 87%, 26 dân tộc thiểu số chiếm 13% (Thái, Thổ, H'Mông, Khơ Mú, Ơ Đu, Chứt, Lào, Hoa); Công giáo 220.958 người, Phật giáo 85.739 người. |
| Hạ tầng & Kinh tế |
Cơ cấu hành chính năm 2010 gồm 1 thành phố Vinh (đô thị loại I), 2 thị xã (Cửa Lò, Thái Hòa), 1 thị trấn Hoàng Mai (thành lập thị xã năm 2013) và 17 huyện; GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 14,8 triệu đồng (bằng 70% mức bình quân chung cả nước); tăng trưởng kinh tế 2005 - 2010 đạt 9,75%/năm; mạng lưới giao thông gồm QL 1A (83 km), QL 7 (225 km), QL 46 (82 km), QL 48 (160 km), đường sắt Bắc - Nam (95,5 km), đường Hồ Chí Minh (133 km), Cảng hàng không Vinh, Cảng biển Cửa Lò. |
| Văn hóa & Di sản |
Toàn tỉnh có 1.395 di tích, danh thắng (123 di tích cấp quốc gia, 80 di tích cấp tỉnh); Khu di tích Kim Liên; 4 ngôi đền nổi tiếng ("Nhất Cờn, Nhì Quả, Tam Bạch Mã, Tứ Chiêu Trưng"); Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh; ẩm thực lươn đạt kỷ lục châu Á. |
- Chủ trương và chỉ đạo: Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đề ra mục tiêu đưa Nghệ An trở thành trọng điểm du lịch Bắc Trung Bộ. Tỉnh ủy tập trung chỉ đạo: kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về du lịch; triển khai công tác quy hoạch các vùng du lịch trọng điểm; đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông kết nối; khai thác thế mạnh du lịch nghỉ dưỡng biển Cửa Lò, du lịch văn hóa tâm linh Nam Đàn; xúc tiến liên kết tour tuyến với các tỉnh lân cận và nước bạn Lào.
Chương 3: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH (2015 - 2020)
Chương 3 luận giải giai đoạn phát triển mới dưới sự chỉ đạo của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII:
- Các yếu tố mới tác động: Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị (2017) xác định phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; hiệu lực của Luật Du lịch năm 2017; xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong kinh doanh du lịch; tác động tiêu cực của thiên tai và đặc biệt là sự bùng phát của đại dịch COVID-19 trong năm 2020.
- Bổ sung chủ trương và chỉ đạo thực hiện: Đảng bộ tỉnh Nghệ An bổ sung các đề án, kế hoạch hành động nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch; thu hút các tập đoàn kinh tế tư nhân đầu tư vào hạ tầng khách sạn cao cấp, khu nghỉ dưỡng sinh thái; phát triển các mô hình du lịch cộng đồng tại miền Tây (huyện Con Cuông, Quỳ Châu) gắn với giữ gìn văn hóa đồng bào Thái, Thổ; đẩy mạnh đào tạo chuẩn hóa nhân lực dịch vụ và chuyển đổi phương thức xúc tiến quảng bá số; kịp thời ban hành các chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, ứng phó với ảnh hưởng của dịch bệnh năm 2020.
Chương 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
Chương 4 thực hiện việc tổng kết khoa học:
- Nhận xét ưu điểm: Công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đã tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức của các cấp chính quyền và nhân dân về vị trí của kinh tế du lịch; hệ thống thể chế, quy hoạch địa phương được ban hành kịp thời; hạ tầng giao thông và cơ sở lưu trú được nâng cấp; lượng khách và tổng thu du lịch duy trì mức tăng trưởng khá qua từng năm.
- Nhận xét hạn chế và nguyên nhân: Sản phẩm du lịch còn thiếu sự đa dạng, tính thời vụ của du lịch biển Cửa Lò còn gay gắt; du lịch sinh thái miền Tây chưa tạo được liên kết chuỗi bền vững; chất lượng nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp còn thấp; hiệu lực phối hợp liên ngành có mặt chưa đồng bộ. Nguyên nhân xuất phát từ điều kiện thời tiết khắc nghiệt, nguồn vốn ngân sách đầu tư công hạn chế, công tác xúc tiến thiếu trọng tâm và tư duy liên kết vùng chưa sâu.
- Kinh nghiệm lịch sử: Luận án đúc kết 5 nhóm bài học: (1) Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và nhân dân; (2) Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, thực hiện tốt công tác quy hoạch đồng bộ; (3) Khai thác hiệu quả tiềm năng tự nhiên gắn với bảo tồn di sản văn hóa truyền thống; (4) Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư và mở rộng liên kết vùng, liên kết quốc tế; (5) Chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Cung cấp nguồn tư liệu khoa học có hệ thống, chân thực và khách quan về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An đối với ngành du lịch trong 10 năm (2010 - 2020).
- Góp phần phục dựng một cách toàn diện tiến trình lịch sử địa phương, làm sâu sắc thêm lý luận và thực tiễn về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực kinh tế dịch vụ trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
- Khẳng định tính đúng đắn trong các chủ trương phát triển du lịch của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua khảo sát thực tiễn tại một địa bàn cụ thể ở Bắc Trung Bộ.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Đưa ra những nhận định, đánh giá khách quan về thành tựu, hạn chế cùng nguyên nhân trong quá trình tổ chức thực hiện của Đảng bộ tỉnh Nghệ An.
- Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học để Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An tham khảo trong việc hoạch định và điều chỉnh các nghị quyết, chính sách phát triển du lịch cho các giai đoạn tiếp theo.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo: hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư ngoài ngân sách; đẩy mạnh công tác quy hoạch gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; chuẩn hóa đào tạo nguồn nhân lực du lịch tại chỗ; phát triển các tour du lịch cộng đồng tại miền Tây Nghệ An và du lịch di sản - tâm linh gắn với giáo dục truyền thống cách mạng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung tiếp cận đối tượng dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chú trọng phân tích đường lối, chủ trương và kết quả chỉ đạo vĩ mô của cấp ủy tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 - 2020. Do giới hạn về chuyên ngành và phạm vi nghiên cứu, công trình không đi sâu vào việc xây dựng các mô hình kinh tế lượng vi mô, phân tích hành vi tiêu dùng chi tiết của từng phân khúc du khách hoặc đánh giá hiệu quả tài chính vi mô của từng doanh nghiệp du lịch độc lập.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo phục hồi và chuyển đổi số ngành du lịch trong giai đoạn sau đại dịch COVID-19 (từ năm 2021 trở đi); thực hiện các nghiên cứu so sánh liên tỉnh có chiều sâu về hiệu quả lãnh đạo phát triển du lịch giữa toàn bộ các địa phương trong vùng Bắc Trung Bộ.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Quản lý văn hóa, Du lịch học và Kinh tế phát triển.
- Cán bộ lãnh đạo, công chức tham mưu công tác văn hóa - tư tưởng, chuyên viên hoạch định chính sách kinh tế - xã hội tại các cơ quan Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Sở Du lịch các tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Bảng tổng hợp dữ liệu toàn diện về tiềm năng tự nhiên, văn hóa, nhân khẩu học và kết cấu hạ tầng của tỉnh Nghệ An.
- Hệ thống hóa các nghị quyết, chỉ thị, đề án của Tỉnh ủy Nghệ An về phát triển du lịch qua hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và XVIII.
- Hệ thống 5 bài học kinh nghiệm lịch sử về phương thức lãnh đạo của Đảng bộ cấp tỉnh đối với việc phát triển một ngành kinh tế thế mạnh của địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Mục tiêu trọng tâm của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong lãnh đạo phát triển du lịch giai đoạn 2010 - 2020 là gì?
Căn cứ vào Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 30 tháng 7 năm 2013 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, XVIII, mục tiêu trọng tâm của Đảng bộ tỉnh Nghệ An là khai thác tối đa các tiềm năng, lợi thế về tự nhiên, văn hóa và lịch sử để đưa Nghệ An trở thành trung tâm dịch vụ, du lịch của vùng Bắc Trung Bộ và là một trọng điểm du lịch của cả nước, từng bước xây dựng du lịch thành ngành kinh tế quan trọng đóng góp tích cực vào cơ cấu kinh tế địa phương.
2. Luận án thống kê những nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa nổi bật nào của Nghệ An phục vụ cho phát triển du lịch?
Luận án trình bày hệ thống tài nguyên phong phú gồm: 82 km bờ biển với các bãi tắm Cửa Lò, Bãi Lữ, Diễn Thành, Quỳnh Phương; Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An rộng hơn 1,3 triệu ha (gồm Vườn quốc gia Pù Mát 93.523 ha, Khu bảo tồn Pù Huống 41.127 ha, Pù Hoạt trên 34.723 ha); hệ thống hang động Thẩm Ồm, hang Bua; các thác nước Khe Kèm, Xao Va; suối khoáng nóng Giang Sơn, Bản Khạng. Về văn hóa, tỉnh có 1.395 di tích, danh thắng (123 di tích quốc gia, 80 di tích cấp tỉnh), Khu di tích Kim Liên, cụm 4 ngôi đền "Nhất Cờn, Nhì Quả, Tam Bạch Mã, Tứ Chiêu Trưng", Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh và ẩm thực đặc sản lươn đạt kỷ lục châu Á.
3. Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An đối với phát triển du lịch được triển khai trên các lĩnh vực cụ thể nào?
Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An được phân tích có hệ thống trên 5 lĩnh vực chính: (1) Công tác tuyên truyền, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển du lịch; (2) Công tác quy hoạch không gian, kiểm tra, thanh tra hoạt động du lịch; (3) Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông và cơ sở vật chất kỹ thuật lưu trú; (4) Xúc tiến, quảng bá, đa dạng hóa các sản phẩm và loại hình du lịch; (5) Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực du lịch.
4. Những khó khăn và rào cản đặc thù nào của địa phương tác động tiêu cực đến sự phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn này?
Theo tư liệu luận án, các rào cản chính gồm: địa bàn rộng và địa hình chia cắt phức tạp gây trở ngại cho giao thông kết nối các điểm du lịch miền Tây; khí hậu khắc nghiệt với gió phơn Tây Nam khô nóng vào mùa hè và bão lũ mùa đông khiến du lịch biển mang tính thời vụ cao; xuất phát điểm kinh tế thấp với GDP bình quân đầu người năm 2010 chỉ đạt 14,8 triệu đồng (bằng 70% mức bình quân chung cả nước) dẫn đến nguồn vốn đầu tư công hạn hẹp; tỷ lệ lao động du lịch chưa qua đào tạo còn cao, chủ yếu là lao động thời vụ.
5. Luận án đã đúc kết được những bài học kinh nghiệm lịch sử chủ yếu nào?
Luận án đúc kết 5 kinh nghiệm cốt lõi: tăng cường vai trò lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng và phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước gắn liền với quy hoạch đồng bộ; tập trung phát triển các sản phẩm du lịch đặc trưng trên cơ sở bảo tồn văn hóa và tài nguyên tự nhiên; tăng cường xã hội hóa đầu tư, mở rộng liên kết vùng và quốc tế; chú trọng đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và ngoại ngữ cho nguồn nhân lực ngành du lịch.
Kết luận
Luận án "Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2010 đến năm 2020" của tác giả Hồ Bá Tú là một công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo có hệ thống, phản ánh đầy đủ tiến trình hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực tiễn của một Đảng bộ cấp tỉnh đối với ngành du lịch trong bối cảnh đổi mới và hội nhập. Dựa trên nguồn tư liệu phong phú và phương pháp nghiên cứu lịch sử - lôgic chặt chẽ, luận án đã làm rõ những chuyển biến tích cực của du lịch Nghệ An, đồng thời chỉ ra những điểm nghẽn về hạ tầng, tính thời vụ và chất lượng nguồn nhân lực. Các kết luận và 5 bài học kinh nghiệm lịch sử được đúc kết từ luận án có giá trị khoa học và thực tiễn rõ rệt, cung cấp cơ sở luận cứ tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng và hỗ trợ việc hoạch định chính sách phát triển du lịch tại tỉnh Nghệ An cũng như khu vực Bắc Trung Bộ.