Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Tiếp theo chương 2 trình bày một số khái niệm, cơ sở giả thuyết cho mô hình nghiên cứu. Trên cơ sở này, mô hình nghiên cứu được xây dựng cùng với giả thuyết về mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình. Chương này gồm ba phần chính: (1) lý thuyết về khách sạn xanh, chất lượng trải nghiệm, chất lượng trải nghiệm xanh, hình ảnh xanh, sự hài lòng về trải nghiệm xanh; (2) tóm tắt mô hình nghiên cứu có liên quan, (3) giả thuyết và đề xuất mô hình 2.
Các khái niệm nghiên cứu liên quan 2. Khách sạn xanh Khái niệm về một khách sạn xanh được thể hiện với nhiều quan điểm khác nhau: Theo Tiêu chuẩn Khách sạn xanh ASEAN: “Khách sạn xanh là khách sạn thân thiện với môi trường và sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng” Kasim (2004, trang 10) đã đề cập rằng khách sạn xanh có những hoạt động trực tiếp có trách nhiệm đối với nhân viên của mình, cộng đồng địa phương, văn hóa địa phương, và hệ sinh thái xung quanh. Hiệp hội Khách sạn xanh (2008) cho rằng: “Khách sạn Xanh là khách sạn thân thiện với môi trường mà các nhà quản lý tài sản của họ mong muốn thiết lập các chương trình tiết kiệm nước, tiết kiệm năng lượng, giảm chất thải rắn – nhằm tiết kiệm tiền - để giúp bảo vệ trái đất của chúng ta”. Tuyên bố này bao gồm các hoạt động quản lý quan trọng trong ngành khách sạn xanh, chẳng hạn như tiết kiệm năng lượng và nước, quản lý chất thải và giáo dục khách du lịch về môi trường (Kotler và cộng sự, 1999; Middleton và Hawkins, 1998).
Thuật ngữ khách sạn xanh được xác định rõ ràng hơn bởi Hiệp hội Khách sạn Xanh (2015), hiệp hội này đề cập đến khách sạn xanh là khách sạn có xu hướng thân thiện với môi trường hơn thông qua việc sử dụng hiệu quả hơn năng lượng, nguyên liệu và tài nguyên nước làm hài lòng khách hàng và cung cấp chất lượng dịch vụ. 123doc 11 Theo Lee và cộng sự (2010), khách sạn xanh bao gồm cả hoạt động quản lý trong lĩnh vực khách sạn như giảm chất thải rắn, tái chế và tái sử dụng hàng hóa lâu bền. Ngoài ra, Lee và cộng sự (2010), Norazah (2013) lưu ý rằng một hình ảnh tổng thể khách sạn ảnh hưởng đến ý định của người tiêu dùng trong việc đưa ra các khuyến nghị tích cực và ý định ghé thăm lại khách sạn. Rõ ràng, khách sạn xanh có nhiều lợi thế cạnh tranh khác nhau.
Chúng không chỉ cung cấp những lợi ích cho xã hội mà còn giáo dục người tiêu dùng về môi trường, đồng thời nâng cao hình ảnh của khách sạn, giảm chi phí hoạt động và tạo ra nhiều lợi ích kinh tế. Do đó, kinh doanh khách sạn xanh dự đoán sẽ trở thành một thị trường phát triển trong cạnh tranh ngành khách sạn hiện nay (Yadav và cộng sự, 2016; Noor và Kumar, 2014). Định nghĩa này có thể được hiểu rằng: Khách sạn xanh là cơ sở thực hiện hoạt động thân thiện với môi trường khác nhau như tiết kiệm nước/năng lượng (chương trình tái sử dụng; chương trình tiết kiệm năng lượng), sử dụng hành vi thân thiện với môi trường (vật tư làm sạch không độc hại, nhà cung cấp địa phương có nguồn gốc, v.) và giảm xử lý chất thải (không cung cấp đồ vệ sinh phòng tắm, sử dụng thùng tái chế, v.) để bảo vệ môi trường tự nhiên và giảm chi phí vận hành. Khái niệm nhãn du lịch bền vững Bông Sen Xanh Nhãn Du lịch bền vững Bông sen xanh (sau đây gọi là Nhãn Bông sen xanh) là nhãn hiệu cấp cho các cơ sở lưu trú du lịch (viết tắt là CSLTDL) đạt tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
CSLTDL được cấp Nhãn Bông sen xanh là đơn vị đã có những nỗ lực trong việc bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng, góp phần bảo vệ các di sản, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương và phát triển du lịch bền vững3. Nhãn Bông sen xanh có 5 cấp độ, từ 1 Bông sen xanh đến 5 Bông sen xanh. Số lượng Bông sen xanh ghi nhận mức độ nỗ lực trong bảo vệ môi trường và phát 3 Quyết định số 1355/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, 2012. 123doc 12 triển bền vững của CSLTDL, không phụ thuộc vào loại, hạng mà CSLTDL đó đã được công nhận.
Cơ sở lưu trú muốn được cấp giấy chứng nhãn Bông sen xanh phải đảm bảo đạt được, tuân thủ theo bộ tiêu chí Nhãn Bông sen xanh gồm 81 tiêu chí với tổng số 154 điểm và 25 điểm thưởng, chia làm 3 cấp: Cấp cơ sở: 30 tiêu chí, cấp khuyến khích: 29 tiêu chí, cấp cao: 22 tiêu chí. Theo đó: Tiêu chí cấp cơ sở là những tiêu chí cần thiết, dễ thực hiện, chủ yếu mang tính quản lý nội bộ. Tiêu chí cấp khuyến khích và cấp cao là các tiêu chí yêu cầu cao hơn, khó hơn, đòi hỏi phải đầu tư nhiều hơn nhằm khuyến khích các CSLTDL liên tục đổi mới, cố gắng để đạt được ở mức cao hơn. Tiêu chí thưởng với tổng số điểm thưởng 25 điểm, áp dụng cho các CSLTDL đã đạt chứng chỉ Công trình Xanh - LOTUS (15 điểm) hay được cấp chứng chỉ ISO 14001 chứng nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế về hệ thống quản lý môi trường (10 điểm).
Khái niệm du lịch bền vững Theo tổ chức Liên minh bảo tồn thế giới năm 1996 thì: “Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế-xã hội của cộng đồng địa phương” Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hợp quốc (UNWTO) đã đưa ra một định nghĩa về du lịch bền vững như sau: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”. 123doc 13 Như vậy, có thể hiểu rằng du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng dùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương lai" với những mục tiêu chính gồm có: phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường; cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển; cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa; đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách; duy trì chất lượng môi trường. Bàn thêm về phát triển du lịch bền vững, khái niệm này được định nghĩa tại Khoản 14, Điều 3 Luật Du lịch 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) như sau: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai”.
Khái niệm này theo các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực khác liên quan ở Việt Nam vẫn có quan điểm chưa thật sự thống nhất tuy nhiên cho đến nay đa số các ý kiến đều cho rằng: “Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tài nguyên tự nhiên và nhân văn nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch; có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn và đảm bảo sự đóng góp cho công tác bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, cho công tác bảo vệ môi trường để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”. Chất lượng trải nghiệm xanh 2. Trải nghiệm Williams (1976, 1983, trang 127) lưu ý rằng: “Trải nghiệm. là loại ý thức đầy đủ nhất, cởi mở nhất, tích cực nhất và bao gồm cảm giác cũng như suy nghĩ.
Tính hữu dụng chung của trải nghiệm được công nhận rộng rãi đến mức thật khó để biết ai sẽ muốn thách thức nó trong khi nó [cho phép] hoàn toàn khác kết luận được rút ra từ các quan sát được thu thập và giải thích đa dạng”. Quan điểm của Gupta và Vajic (1999, trang 32,) về trải nghiệm như sau: “Một trải nghiệm xảy ra khi khách hàng có bất kỳ cảm giác hoặc kiến thức tiếp thu được 123doc 14 do một số mức độ tương tác với các yếu tố khác nhau của bối cảnh được tạo bởi nhà cung cấp dịch vụ”. Pine và Gilmore (1999) cho rằng: “Trải nghiệm khách hàng là tổng thể tất cả những trải nghiệm mà một khách hàng có được trong mối quan hệ với nhà cung ứng hàng hóa và dịch vụ trong suốt quá trình hai bên có mối quan hệ mua bán hàng hóa với nhau”. Bàn về mục tiêu của trải nghiệm, theo quan điểm của McLellan (2000, trang 62): “Mục tiêu của thiết kế trải nghiệm là phối hợp các trải nghiệm có chức năng, có mục đích hữu ích, tương tác, hấp dẫn và đáng nhớ”.
Gentile và cộng sự (2007) cho rằng trải nghiệm là kết quả của một tập hợp các tương tác giữa một tổ chức hoặc một sản phẩm và người tiêu dùng. Những tương tác này dẫn đến các phản ứng khác nhau của người tiêu dùng (Gentile và cộng sự, 2007, Stamboulis và Skayannis, 2003). Meyer và Schwager (2007) nhấn mạnh rằng một trải nghiệm xảy ra không chỉ khi người tiêu dùng liên hệ trực tiếp (trong khi mua) mà còn gián tiếp (dưới dạng khuyến nghị hoặc phê bình truyền miệng, quảng cáo, báo cáo tin tức hoặc đánh giá) với một tổ chức.