CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE THU HUT VON ĐẦU TƯ CHO PHAT TRIEN DU LICH 1.1 Cac khái niệm cơ bản 1.1 Du lịch và phát triển du lịch Luật du lịch được Quốc hội thông qua năm 2005 đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến di của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu câu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [8]. Từ khái niệm trên, có thé rút ra những luận điểm cơ bản về du lịch sau: - Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên. - _ Chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn. - Mục đích của chuyến du lịch là thoả mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng hoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứu thị trường, nhưng không vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm dé nhận thu nhập nơi đến viễng thăm.
- Du lịch là thiết lập các quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và dân cư ở địa phương. Phát triển du lịch được hiểu là sự vận động đi lên theo chiêu hướng tiễn bộ của hoạt động du lịch cả về quy mô số lượng và chất lượng. Đây cũng là quá trình cộng đồng doanh nghiệp, dân cư và chính quyên không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng cơ sở cung ứng dich vụ cũng như các loại dich vụ du lịch.2 Khái niệm vốn đầu tư và thu hút vốn đầu tư Vôn là biêu hiện băng tiên của toàn bộ tai sản của một đơn vi kinh tê hay một quốc gia. Các loại vốn đang trong quá trình đầu tư xây dựng.được gọi là vốn đầu tư.
Vốn đầu tư là toàn bộ những chỉ tiêu dé làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời gian nhất định. Vốn đầu tư thường thực hiện qua các dự án đầu tư va một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục dich chủ yếu là bé sung tài sản cố định và tài sản lưu động. Theo Luật Đầu tư được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 thì “Von dau tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác đề thực hiện các hoạt động dau tư theo hình thức dau tư trực tiếp hoặc gián tiếp ”[9, tr. Thu hút vốn đầu tư là hoạt động nhằm khai thác, huy động các nguồn vốn đầu tư dé đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế.
Thu hút vốn đầu tư bao gồm tổng hợp các cơ chế, chính sách, thông qua các điều kiện về hành lang pháp lý, kết cau hạ tầng kỹ thuật — xã hội, các nguồn tài nguyên, môi trường.để thu hút các nhà đầu tư đầu tư vốn, khoa học công nghệ.dé sản xuất kinh doanh nhằm đạt được một mục tiêu nhất định. Thực chất thu hút vốn đầu tư là làm gia tăng sự chú ý, quan tâm của các nhà đầu tư dé từ đó dịch chuyển dòng vốn đầu tư vào địa phương hoặc ngành [6, tr.3 Các nguồn vốn đầu tư Ở góc độ chung nhất trong phạm vi một quốc gia, nguồn vốn đầu tư được chia thành hai nguôn: nguôn vôn đâu tư trong nước và nguôn vôn đâu tư nước ngoài.1 Nguôn vôn đâu tư trong nước: Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia. Nguồn vốn này có ưu điểm là bền vững, ồn định, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và tránh được hậu quả từ bên ngoài. Nguồn vốn trong nước bao gồm vốn Nhà nước, vốn tín dụng, vốn của khu vực doanh nghiệp tư nhân và dân cư chủ yếu được hình thành từ các khu vực sau: tiết kiệm của ngân sách, tiết kiệm của doanh nghiệp và tiét kiệm của khu vực dân cư.
- Tiét kiệm của ngân sách nhà nước: Là sô chênh lệch dương giữa tông các khoản thu mang tính không hoàn lại (chủ yếu là thuế) với tổng chỉ tiêu của ngân 10 sách. Tiêt kiệm ở khâu tai chính nay sẽ hình thành nên nguôn von đâu tư của nhà nước và phụ thuộc vào chính sách chi tiêu của ngân sách. - _ Tiết kiệm doanh nghiệp: Là số lãi ròng có được từ kết quả kinh doanh. Đây là nguồn tiết kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tư phát triển theo chiều rộng và chiều sâu.
Quy mô tiết kiệm của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tô trực tiếp như hiệu quả kinh doanh, chính sách thuế, sự ôn định kinh tế vi mô. - _ Tiết kiệm của khu vực dân cư: Là khoản tiền còn lại của thu nhập sau khi đã phân phối và sử dụng cho mục đích tiêu dùng. Quy mô tiết kiệm của khu vực dân cư chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố trực tiếp như trình độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đâu người, chính sách lãi suât, chính sách thuê, sự ôn định kinh tê vĩ mô.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài: Nguồn vốn đầu tư nước ngoài được hình thành từ tiết kiệm của các chủ thé kinh tế nước ngoài và được huy động thông qua các hình thức cơ bản: Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance — ODA) và Dau tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Invesment — FDI). - _ Viện trợ phát triển chính thức ODA: Day là tất cả các khoản viện trợ của các đối tác viện trợ nước ngoài dành cho Chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ.
Gọi là “Viện trợ” bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Gọi là “Phát triển” vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi là “Chính thức”, vì nó thường là cho Nhà nước vay [23]. ODA một vừa là nguồn bổ sung cho nguồn vốn trong nước dé phát triển kinh tế, vừa giúp các quốc gia nhận viện trợ tiếp cận nhanh chóng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại.
Ngoài ra, nó tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội va dao tạo phát triển nguồn nhân lực. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: Day là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác băng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh [23]. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản 11 xuất kinh doanh này. Các hình thức chủ yếu của FDI ở nước ta như doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới các hình thức BOT, BTO, BT.
FDI không chi đơn thuần đưa ngoại tệ vào nước sở tại mà còn kèm theo chuyền giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả năng tiếp cận thị trường thế giới, giải quyết việc làm, sử dụng tài nguyên trong nước. Hiện nay, đối với nền kinh tế đang chuyên đổi trong giai đoạn thực hiện công cuộc công nghiệp hóa — hiện đại hóa đất nước, nguồn vốn tiết kiệm trong nước luôn giữ vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển bền vững lâu dai của nền kinh tế, ngoài việc làm tăng vốn đầu tư, nó còn là điều kiện để hap thu vốn nước ngoài một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, do nguồn vốn này còn thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư phát triển nên cần phải thu hút nguồn vốn nước ngoài dé tạo cú hich cho sự đầu tư phát triển nền kinh tế. Nhận thức được điều đó, trong bài luận văn này, tắc giả đã đề cao tầm quan trọng của cả hai nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài (chủ yếu là vốn FDI) đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng.2 Thu hút vốn đầu tư dé phát triển du lịch 1.1 Sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tư để phát triển du lịch Thu hút vốn đầu tư được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu, được Chính phủ các nước đây mạnh thực hiện.
Quá trình này đang diễn ra gay gắt giữa các quốc gia, khu vực, vùng miền. Cũng như với các ngành kinh tế khác, thu hút vốn đầu tư có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của ngành du lịch. Dé đưa du khách đến với các địa điểm du lịch, trước hết cần phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như hệ thống giao thông, phương tiện vận chuyền.Muốn giữ chân du khách, phải đầu tư xây dựng, tôn tạo các khu du lịch, xây dựng cơ sở lưu trú, hoàn chỉnh hệ thống thông tin liên lạc, cung cấp nước sạch, năng lượng cho các khu du lịch. Muốn gia tăng nguồn thu từ khách du lịch phải đầu tư vốn dé tao ra các sản phẩm du lịch đa dạng, phong phú và hấp dẫn.Do đó, việc xác định quy mô và định hướng đầu tư vốn đúng đắn sẽ tạo điều kiện cho du lịch phát triển bền vững, khai thác tốt các 12 tiềm năng và bảo vệ cảnh quan môi trường.
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, kinh doanh du lịch đang là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch là “con gà đẻ trứng vàng”, vì vậy, không ngừng thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch là sự cần thiết khách quan bởi một số lý do sau: - Thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch góp phan tăng trưởng kinh tế: Thu hút đâu tư sẽ làm cho lượng vốn đầu tư tăng lên, do đó sản lượng đầu ra cũng tăng lên sẽ góp phần phát triển ngành du lịch nói riêng và thúc đây các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân phát triển thông qua việc tạo ra một thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các ngành. Từ nông nghiệp, thuỷ hải sản, công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp hàng tiêu dùng đến điện lực, nước sạch, bưu chính, viễn thông.tiêu thụ được sản phẩm thông qua bán sản phẩm va dich vụ cho khách du lịch và doanh nghiệp du lịch. - Thu hút von đầu tư vào phát triển du lịch góp phan chuyển dich cơ cấu kinh tế: Đầu tư chính là phương tiện đảm bảo cho cơ cấu kinh tế được hình thành hợp lý. Ngành du lich là một bộ phận cấu thành nên nên kinh tế do đó thu hút vốn đầu tư vào du lịch sẽ làm ảnh hưởng đến sự chuyên dịch cơ cấu nền kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp chuyền sang dịch vụ.
Từ đó, thu hút nhiều lực lượng lao động và tạo ra một thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các ngành khác.