PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Năm 1978, Trung Quốc thực hiện cải cách mở cửa phát triển kinh tế và là một quốc gia nghèo trên thế giới. Đến năm 2008, đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, trong khi Hoa Kỳ bị sa lầy trong tăng trưởng thấp và đầy bi quan, thì Trung Quốc vẫn tăng trưởng với tốc độ hai con số và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau Mỹ từ năm 2010. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc luôn chiếm một tỷ trọng lớn so với tổng GDP toàn cầu.
Bất chấp ảnh hưởng của đại dịch COVID, trong khi GDP thế giới năm 2020 đạt 84,71 nghìn tỷ USD, GDP của Trung Quốc đạt 14,72 nghìn tỷ USD, chiếm 17,38% GDP thế giới. (WB, 2021) Từ sức mạnh kinh tế của mình, Trung Quốc đang dần chuyển thành sức mạnh chính trị, điều này ta có thể thấy rõ qua những bước chuyển trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc từ đầu những năm 1990 đến nay. Dưới thời Chủ tịch Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc theo đuổi chính sách đối ngoại hạn chế, với khẩu hiệu “Ẩn mình chờ thời”. Khẩu hiệu này dẫn đầu cho chính sách ngoại giao thận trọng trong suốt quá trình lãnh đạo sau này của các nhà lãnh đạo Trung Quốc như Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào; với mục tiêu thân cận với càng nhiều quốc gia càng tốt, tránh việc khiêu khích lẫn tranh giành vai trò lãnh đạo trên đấu trường quốc tế.
Nhờ đó, từ vị trí bị cô lập ngoại giao gần như hoàn toàn sau cuộc Cách mạng văn hóa năm 1970, Trung Quốc đã thành công việc thiết lập quan hệ với hầu hết mọi quốc gia trên thế giới vào năm 2000. Đến năm 2012, dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, với cách tiếp cận mới hơn, mạnh mẽ hơn về các tuyên bố lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông, sáng kiến “Vành đai và con đường” hay “Giấc mơ Trung Hoa”, dường như Trung Quốc đã từ bỏ cách tiếp cận ẩn mình và dần trở nên mạnh mẽ hơn trong phương thức ngoại giao liên quan đến các vấn đề thời sự ở khu vực lẫn quốc tế. Một bước tiến nổi bật chính là Bắc Kinh đã trở nên tham vọng hơn trong việc tuyên bố các mục tiêu đối ngoại nâng tầm vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế hơn nữa. 3 Những biểu hiện cụ thể nhất trong chính sách đối ngoại Trung Quốc từ năm 2012 là việc Trung Quốc bắt đầu tận dụng cơ hội nhiều nhất có thể đối với những vấn đề trong quan hệ quốc tế để chèo lái những diễn biến quốc tế theo hướng Trung Quốc mong muốn.
Từ sự kiện Crimea vào năm 2014 đã tạo rạn nứt lớn trong quan hệ Nga - Mỹ, Chủ tịch Tập Cận Bình đã hướng tới thúc đẩy quan hệ gần như đồng minh với Nga vào thời điểm nước Nga cần phá vỡ sự cô lập quốc tế. Tương tự, sau chiến thắng của Tổng thống Mỹ - Donald Trump vào tháng 11/2016, tận dụng việc ông Trump quyết định rút khỏi Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Paris về Biến đổi Khí hậu tại Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo G20 lần thứ 15, chủ tịch Tập Cận Bình cam kết bảo vệ chủ nghĩa đa phương và thương mại tự do, đồng thời chủ động cải cách hệ thống quản trị toàn cầu. (Xinhua, 2020) Các học giả nghiên cứu về chính sách đối ngoại đánh giá rằng, kể từ khi nắm quyền lực, ông Tập đã nỗ lực xây dựng nền tảng giúp Trung Quốc chủ động và mạnh mẽ hơn trong việc đối phó các diễn biến bên ngoài. Vậy, trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc và tham vọng trở thành cường quốc toàn cầu, với vị trí địa lý là láng giềng gần của Trung Quốc, các quốc gia Đông Nam Á cần phải làm gì để đạt được trạng thái cân bằng trong quan hệ ngoại giao với một cường quốc đang lên, trong khi Trung Quốc xác định Đông Nam Á là khu vực ngoại vi có tầm quan trọng đối với nền kinh tế, chính trị của mình? Đây là câu hỏi mà các học giả nghiên cứu quan hệ quốc tế, cũng như các chính trị gia trên thế giới đi tìm lời giải đáp.
Với vị trí địa chính trị, kinh tế đặc biệt, Đông Nam Á là ngã tư của con đường hàng hải quốc tế nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Đồng thời, là khu vực địa chiến lược có sự cạnh tranh ảnh hưởng của nhiều cường quốc, từ Mỹ, Nga, Nhật Bản đến Ấn Độ. Vì lẽ đó, Trung Quốc luôn cố gắng duy trì quan hệ tốt với các quốc gia trong khu vực này để loại bỏ bất kỳ nguy cơ nào khiến Đông Nam Á bị các cường quốc lôi kéo hoặc thành lập một liên minh chống Trung Quốc. Từ những lý do trên, khu vực Đông Nam Á dần trở nên quan trọng trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc.
4 Từ những ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc trên trường quốc tế trong các vấn đề liên quan đến kinh tế, chính trị, an ninh – quốc phòng, tác giả mong muốn được tìm hiểu những cơ hội và thách thức sẽ xảy ra đối với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á khi đứng trước những chính sách ngoại giao của Trung Quốc dưới thời chủ tịch Tập Cận Bình. Với mục đích cuối cùng là hiểu rõ bản chất thật sự phía sau những chính sách mà quốc gia này đang triển khai đối với khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, nhằm đưa ra các đề xuất để tránh bẫy ngoại giao và nguy cơ trở thành sân sau của Trung Quốc. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài ―Chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á dưới thời Tập Cận Bình‖ làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu Khái niệm chính sách đối ngoại đã được nhiều học giả định nghĩa theo nhiều cách khác nhau để nhấn mạnh các quan điểm xoay quanh thuật ngữ này.
Theo Padelford và Lincoln (1962) định nghĩa, chính sách đối ngoại là “yếu tố quan trọng trong quá trình mà nhà nước chuyển các mục tiêu và lợi ích thành các hành động cụ thể để đạt được những mục tiêu này và gây áp lực lên lợi ích của nó”. Trong khi đó, Josep Frankel (1968) giải thích thuật ngữ chính sách đối ngoại “bao gồm các quyết định và hành động liên quan đến mối quan hệ giữa một quốc gia này và một quốc gia khác”. Rodee (1983) định nghĩa thuật ngữ này là “việc xây dựng và thực hiện các nguyên tắc nhằm định hình hành vi của một quốc gia trong khi đàm phán (liên hệ) với các quốc gia khác để bảo vệ hoặc nâng cao lợi ích của nó”. Và theo Hill (2003), vấn đề cơ bản của chính sách đối ngoại là làm thế nào để các nhóm có tổ chức, ít nhất không liên quan với nhau, tương tác với nhau”.
Chính sách đối ngoại là một thuật ngữ được định nghĩa như “tổng thể của các quan hệ đối ngoại được tiến hành bởi một chủ thể độc lập (thường là nhà nước) trong quan hệ quốc tế. Bằng những định nghĩa này, có thể thấy rằng chính sách đối ngoại là một tập hợp các hành động hợp pháp của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu và lợi ích 5 quốc gia. Mặc dù các học giả có sự khác biệt về định nghĩa chính sách đối ngoại, nhưng quan điểm chung về chính sách đối ngoại chủ yếu là việc quan tâm đến lợi ích và cách ứng xử của quốc gia này đối với các quốc gia khác. Vai trò của chính sách đối ngoại là giảm thiểu tác động của các yếu tố bất lợi và gia tăng ảnh hưởng của các yếu tố thuận lợi và hành động của các quốc gia khác.
Mục tiêu của nó thúc đẩy và bảo vệ lợi ích của các quốc gia khác. Như vậy, quá trình chuyển đổi phong cách ngoại giao của Trung Quốc trong thế kỷ của sự trỗi dậy về kinh tế là điều tất yếu. Từ những thành tựu đạt được trên lĩnh vực kinh tế, Trung Quốc đã thay đổi nhận thức về vai trò của mình trên trường quốc tế, coi lợi ích quốc gia là nguyên tắc cao nhất, dùng nguyên tắc hợp tác thay đối kháng, hòa bình thay cách mạng; dùng tư duy nước lớn để tiến hành ngoại giao với các quốc gia bên ngoài. Do đó, nghiên cứu về những biến đổi trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc luôn là đề tài được giới học giả quan tâm.
Nhìn lại quá trình phát triển của nền ngoại giao Trung Quốc, ta có thể chia thành ba giai đoạn: ngoại giao cách mạng (1.0) từ 1949 – 1978 tập trung vào việc củng cố chế độ mới sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc được hình thành và tìm kiếm sự công nhận từ quốc tế; ngoại giao phát triển (2.0) từ 1979 – 2012 đánh dấu quá trình mở cửa và cải cách từ năm 1979 của Trung Quốc với mục tiêu cải thiện quan hệ với các nước láng giềng và tăng cường quan hệ với một số nước đang phát triển; ngoại giao nước lớn (3.0) kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tổng quan tài liệu này sẽ đề cập đến những đặc điểm chính trong chính sách đối ngoại Trung Quốc, bao gồm phong cách ngoại giao nước lớn, sự trỗi dậy và mối đe dọa của Trung Quốc, sự ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc đối với sự hình thành chính sách đối ngoại Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á. Bước ngoặt trong sự thay đổi chính sách đối ngoại của Trung Quốc dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình là từ bỏ phương thức “Ẩn mình chờ thời” của nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình, thay bằng chính sách đối ngoại quyết đoán và chủ động hơn. Với mục tiêu chủ động thực hiện chính sách “ngoại giao nước lớn” để xử lý các vấn đề 6 quốc tế và khu vực, tích cực thúc đẩy xây dựng khuôn khổ quan hệ quốc tế kiểu mới và cộng đồng chung vận mệnh nhân loại nhằm nâng tầm uy tín quốc tế của Trung Quốc với vai trò một cường quốc mới nổi.
Đồng thời, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, từ việc sử dụng hình thức viện trợ hoặc cho vay vốn trong các dự án lớn làm công cụ thúc đẩy mục tiêu đối ngoại, Trung Quốc mở rộng cách tiếp cận bằng việc thành lập và vận hành các tổ chức tài chính đa phương, qua đó tập hợp các nguồn lực, đồng thời thiết lập sự hiện diện ở các khu vực được xem là sân sau của các nước phát triển.