Chương 1: Cơ sở lý luận và những nhân tố tác động đến chính sách huy động cộng đồng người Hoa tham gia BRI tại Thái Lan Chương 2: Thực trạng triển khai chính sách huy động cộng đồng người Hoa tham gia BRI tại Thái Lan (2013-2022) Chương 3: Đặc điểm và nhận xét về hiệu quả của chính sách huy động cộng đồng người Hoa tham gia BRI tại Thái Lan cùng một số hàm ý chính sách cho Việt Nam 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG NGƢỜI HOA THAM GIA SÁNG KIẾN “VÀNH ĐAI VÀ CON ĐƢỜNG” TẠI THÁI LAN 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về người Hoa, Hoa kiều và cộng đồng người Hoa Khái niệm người Hoa hay Hoa kiều đã xuất hiện rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng và trong các nghiên cứu học thuật. Thuật ngữ này được sử dụng phổ biến tại nước ngoài, đặc biệt là ở các quốc gia Đông Nam Á từ những năm 1950.
Tuy nhiên, thuật ngữ này không được định nghĩa một cách rõ ràng và vẫn chưa có một thuật ngữ chung nào có thể mô tả toàn diện về họ. Bởi lẽ, trong lịch sử chưa bao giờ tồn tại một cộng đồng người có nguồn gốc Trung Hoa sống ở nước ngoài có sự đồng nhất về mặt chủng tộc, văn hóa và chính trị. Chính vì vậy, việc xác định nội hàm khái niệm người Hoa, Hoa kiều sẽ góp phần làm rõ được động cơ và mục đích của Trung Quốc trong việc triển khai chính sách huy động cộng đồng người Hoa tham gia BRI tại Thái Lan. Với nghiên cứu ―Cộng đồng người Hoa kiều tại châu Á‖, tác giả Trần Khánh đã chỉ ra năm đặc điểm để xác định người Hoa, bao gồm: (1) có nguồn gốc Hoa hay bị Hán hóa; (2) sống ổn định và thường xuyên ngoài lãnh thổ Trung Quốc; (3) đã nhập quốc tịch nước sở tại; (4) ít hoặc nhiều chưa bị đồng hóa, vẫn giữ được nét đặc trưng của nền văn hóa Trung Hoa; (5) tự nhận mình là người Hoa.
[Trần Khánh, 2020, tr.24] Cũng theo học giả Trần Khánh, Hoa kiều là những người Hán bị Hán hóa di cư và sống ở nước ngoài, chưa nhập quốc tịch nước sở tại, là công dân Trung Quốc. [Trần Khánh, 1997] Trong từ điển tiếng Hán hiện đại, từ Hoa kiều (华侨 ) được hiểu là người Trung Quốc sống ở nước ngoài. Còn người Hoa hay Hoa nhân (华人) d ng để chỉ 13 công dân nước ngoài có huyết thống Trung Quốc.[中国社会科学院语言研究所词 典编辑室, 2016, tr.560] Văn kiện số 5, ngày 24/4/2009 của Văn phòng Kiều vụ Quốc vụ viện Trung Quốc quy định về xác định thân phận của Hoa kiều, người Hoa quốc tịch nước ngoài, Hoa kiều về nước và thành viên gia đình họ như sau: Điều 1: Hoa Kiều chỉ công dân Trung Quốc định cư ở nước ngoài; Điều 2: Người Hoa quốc tịch nước ngoài (*dịch gọn: người Hoa ở nước ngoài) chỉ những người Trung Quốc đã có quốc tịch nước ngoài và con cháu có quốc tịch nước ngoài của họ. [国务院侨务办 公室, 2009] Như vậy, có thể khái quát rằng người Hoa là thuật ngữ chung để chỉ những người có nguồn gốc dân tộc Trung Quốc, bao gồm tất cả những người có dòng máu Trung Quốc, bất kể họ sống ở đâu.
Còn Hoa kiều là thuật ngữ cụ thể hơn để chỉ những người có quốc tịch Trung Quốc đang sinh sống ở nước ngoài. Tuy vậy, đặt bối cảnh với vấn đề nghiên cứu của luận văn này, người viết sẽ sử dụng thuật ngữ ―Cộng đồng người Hoa‖ để chỉ chung người Hoa và Hoa kiều tại Thái Lan. Bởi việc huy động lực lượng của hai nhóm người này diễn ra song song và đồng nhất trong chính sách huy động của Trung Quốc đối với thực tiễn triển khai BRI tại Thái Lan. Khái niệm ―Sáng kiến Vành đai và Con đường‖ (BRI) BRI là ―đại chiến lược‖ do đích thân Tổng Bí thư - Chủ tịch nước Trung Quốc, ông Tập Cận Bình phát động năm 2013.
Tên gọi ban đầu của BRI lại là ―Một vành đai, Một con đường‖ (One Belt One Road) viết tắt là OBOR, hay còn có cách gọi khác là ―Con Đường Tơ Lụa Mới trên đất liền‖ (NSR), là đại chiến lược kinh tế - chính trị gồm hai phần: Một Vành đai (One Belt) và Một Con đường (One Road). Với sáng kiến này, Trung Quốc tham vọng kết nối với các châu lục, các quốc gia dọc tuyến đường trên tất cả các phương diện như xây dựng hạ tầng, đầu tư thương mại, văn hóa du lịch, an ninh chính trị, quân sự, ngoại giao… Nhằm tạo 14 dựng những hành lang hợp tác kinh tế lớn quan trọng, kết nối Á - Âu, một đầu là vành đai kinh tế Đông Á đầy năng động, một đầu là vành đai kinh tế châu Âu phát triển và ở giữa là các nước có tiềm năng kinh tế lớn. Với việc đưa ra cơ chế hợp tác rộng mở, nới lỏng các rào cản thương mại, kinh doanh, đầu tư xuyên biên giới, trái ngược với các cơ chế hợp tác ―khắt khe‖ do Mỹ đang đóng vai trò chủ trì, Trung Quốc đã mở rộng và phát triển quan hệ ngoại giao với nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á, tạo dựng thị trường hướng tâm về Trung Quốc nhằm đẩy lùi sức ép cạnh tranh từ Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ. Về phía các nước tham gia sáng kiến, một lợi thế dễ nhận thấy là trong bối cảnh kinh tế thế giới chịu tác động lớn bởi dịch bệnh, chủ nghĩa dân tộc, hoạt động thương mại gặp nhiều khó khăn, BRI sẽ giúp cải thiện cơ sở hạ tầng ở các nước, nhất là các nước đang phát triển, từ đó đẩy mạnh toàn cầu hóa, thúc đẩy đầu tư, thương mại quốc tế.
Tính đến cuối năm 2020, có 125 quốc gia ký kết thỏa thuận hợp tác BRI, bao gồm cả một số quốc gia châu Âu. Hội đồng Quan hệ đối ngoại (Mỹ) ước tính, đến thời điểm năm 2019, Trung Quốc đã chi 200 tỷ USD cho các dự án BRI và dự đoán con số đó có thể tăng lên khoảng giữa 1,2 và 1,3 nghìn tỷ USD vào năm 2027. [Hầu Hải Phong, 2022, tr. Chính sách huy động cộng đồng ngƣời Hoa tham gia BRI tại Thái Lan theo quan điểm của một số lý thuyết quan hệ quốc tế 1.
Chủ nghĩa kiến tạo Chủ nghĩa kiến tạo đề cao ý nghĩa của văn hóa, ý tưởng và hệ tư tưởng, lý thuyết này cho rằng các giá trị văn hóa và bản sắc xã hội gắn liền với hoàn cảnh lịch sử có thể tác động đới những quyết định và ưu tiên của chính sách quốc gia. Thay vì coi nhà nước là mặc nhiên, chủ nghĩa kiến tạo coi lợi ích và bản sắc của nhà nước là sản phẩm được tạo nên từ những diễn biến của tiến trình lịch sử. Chủ nghĩa kiến tạo nhấn mạnh vào quá trình xây dựng ý tưởng và con đường hình thành bản sắc đồng thời khẳng định trong từng hoàn cảnh, mỗi quốc gia lại có những ứng xử và phản ứng riêng biệt để phù hợp với các chuẩn mực, ý tưởng và bản sắc đã hình thành. 15 Những người theo chủ nghĩa kiến tạo từ lâu đã thiết lập rằng "bản sắc quyết định lợi ích và đến lượt nó là hành động" [Reus-Smit 2009, tr.
Do đó, việc nhấn mạnh việc xây dựng bản sắc dân tộc theo cách tiếp cận theo chủ nghĩa kiến tạo là quan trọng vì nó giúp xác định nguồn gốc của một số lợi ích nhất định và giải thích đặc điểm chính sách của Trung Quốc. [Weiss, 2014] Dựa theo quan điểm của chủ nghĩa kiến tạo, có thể thấy rằng chính sách huy động cộng đồng người Hoa tham BRI tại Thái Lan được định hình từ những giá trị tương đồng về văn hóa và bản sắc xã hội giữa Trung Quốc và Thái Lan. Nhìn về mặt bản chất sự tương đồng về mặt văn hóa có thể kể đến như, những thực phẩm yêu thích của cả hai nước đều là gạo, cá, thịt lợn. Sự tận tụy của người Thái đối với đạo Phật Theravada đã không tạo ra rào cản nào đối với giao thiệp xã hội hoặc mối quan hệ hữu nghị văn hóa trong cách nhìn thân mật của người Trung Quốc với một dạng đạo Phật khác và sự khoan dung truyền thống cũng như thuyết chiết trung trong các vấn đề tôn giáo của họ.
Thêm nữa, sự khác biệt trong hình dáng bề ngoài giữa người Trung Quốc và người Thái là tương đối nhẹ. William Skinner, 1957] Tuy nhiên, nhân tố đóng vai trò quan trọng trong chính sách huy động cộng đồng người Hoa tại Thái Lan tham gia BRI là lực lượng người Hoa tại Thái Lan. Thái Lan có dân số người Hoa lớn nhất thế giới và duy trì mối quan hệ văn hóa và lịch sử sâu sắc với Trung Quốc từ nhiều thế kỷ trước và mối quan hệ đó hiện nay vẫn hiện diện rõ trong xã hội Thái Lan. Các quan chức Trung Quốc và Thái Lan cũng thừa nhận rộng rãi mối liên hệ này và thường coi mối quan hệ Trung-Thái là mối quan hệ giữa bạn bè cũ hoặc gia đình [Reena Marwah và Sanika Sulochani Ramanayake, 2021].
Dù là cộng đồng người Hoa tại Thái Lan hay cộng đồng người Hoa nào trên thế giới họ đều mang một đặc điểm chung là gắn kết với nhau bởi "keo dính" là các giá trị Nho giáo về sự cần c và căn cơ. [Thu Hương, 2020] Do vậy, sự tham gia của cộng đồng người Hoa vào BRI cũng có thể tái định hình cách mà Thái Lan nhìn nhận về bản sắc và lợi ích của mình. Thay vì chỉ xem Trung Quốc như một cường quốc kinh tế và chính trị, Thái Lan có thể thấy mình là 16 một phần trong mạng lưới rộng lớn hơn kết nối với Trung Quốc thông qua cộng đồng người Hoa. Điều này có thể dẫn đến sự thay đổi trong cách Thái Lan định hình các chính sách đối ngoại và đối nội của mình đối với Trung Quốc và BRI.
Trong lý thuyết kiến tạo, sự tương tác xã hội không chỉ đơn thuần là sự trao đổi thông tin mà còn là quá trình xây dựng và tái tạo các cấu trúc xã hội và chính trị. Các nhà lý thuyết kiến tạo cho rằng các chủ thể quốc tế như quốc gia, tổ chức quốc tế và các nhóm xã hội không chỉ hành động dựa trên lợi ích vật chất hay quyền lực mà còn bị ảnh hưởng bởi các chuẩn mực, giá trị và bản sắc mà họ chia sẻ thông qua quá trình tương tác. Luận điểm này có thể minh chứng bằng việc Trung Quốc sử dụng cộng đồng người Hoa trên thế giới, khu vực Đông Nam Á hay Thái Lan để truyền tải văn hóa, thông điệp chính sách mà nước này muốn hướng đến.