Chương 1 là làm rõ các khái niệm tiểu vùng, hợp tác tiểu vùng. Đồng thời, phân tích những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với GMS từ năm 2006 đến nay. Chương 2: Nội dung triển khai sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với GMS từ năm 2006 đến nay. Chương này chủ yếu khái quát toàn bộ mục tiêu, biện pháp, quá trình triển khai hợp tác của Trung Quốc với GMS trên các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng, an ninh và trên các lĩnh vực khác.
Chương 3: Chiến lược của Trung Quốc đối với GMS và đối sách với Việt Nam. Chương này tập trung đánh giá các tác động tích cực, tiêu cực của hợp tác Trung Quốc với GMS trong quan hệ quốc tế khu vực; dự báo xu hướng của sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với GMS đến năm 2025; đề xuất đối sách của Việt Nam. 17 z Chƣơng 1: NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY SỰ ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƢỢC CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG MỞ RỘNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY 1. Quan niệm về hợp tác tiểu vùng và khái quát về Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 1.
Quan niệm về hợp tác tiểu vùng Kể từ cuối thế kỷ XX, xu thế hợp tác, hội nhập quốc tế được thúc đẩy và phát triển mạnh mẽ và hợp tác tiểu vùng, liên kết khu vực cũng không nằm ngoài xu thế đó. Hợp tác GMS là một trong những sáng kiến hợp tác được triển khai trong xu thế nêu trên4. Tuy nhiên, các sáng kiến hợp tác tiểu vùng ở từng khu vực, từng giai đoạn lịch sử thường mang những nét đặc trưng khác nhau và cho tới nay, giới nghiên cứu cũng chưa đưa ra một khái niệm chung, thống nhất về hợp tác tiểu vùng. Theo từ điển Tiếng Việt thì tiểu vùng được xác định là một khu vực địa lý nhỏ, có đặc điểm riêng so với các vùng địa lý nhỏ khác, ví dụ như: tiểu vùng kinh tế; tiểu vùng khí hậu; Vịnh Bắc Bộ mở rộng, v.
Trong khi đó, từ điển Tiếng Anh5 đưa ra định nghĩa về tiểu vùng là một phân khu của một khu vực nào đó (a subdivision of a region); hoặc một trong những bộ phận chính của một vùng địa sinh học (one the primary division of a biogeographic region). Dù cả hai định nghĩa trên có cách diễn đạt khác nhau, song chúng đều có điểm chung khi cho rằng, tiểu vùng là một phần, một bộ phận của một khu vực địa lý rộng lớn hơn. Hợp tác tiểu vùng (Subregion coopreration): Trong báo cáo nghiên cứu tính khả thi hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng6 của nhóm chuyên gia Trung Quốc – ASEAN dẫn định nghĩa của Giáo sư Chao Han (Singapore) cho rằng: Hợp tác tiểu vùng thông thường bắt đầu từ sự ghép nối giữa các quốc gia thông qua sự liên kết biển (sea link), liên kết trên bộ (land link), liên kết sông (river link) hình thành nên hợp tác mang tính khu vực. Các chủ thể hợp tác tiểu vùng có thể là quốc gia, cũng có thể 4 Nguyễn Quốc Trường (2017), Sáng kiến hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng và tác động tới quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á, Luận án Tiến Sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế, Đại học KHXH&NV (ĐHQGHN) 5 http://www.com/dictionary/subregion 6 Bộ Ngoại Giao (2006), Báo cáo nghiên cứu tính khả thi của hợp tác kinh tế VBBMR, tháng 6/2006.
18 z là một tỉnh hoặc một số tỉnh của nước lớn. Hợp tác tiểu vùng là hợp tác cùng có lợi, được xây dựng trên cơ sở tôn trọng chủ quyền quốc gia, phát huy đầy đủ ưu thế so sánh của địa phương. Hình thức hợp tác này chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố trên các mặt kinh tế, chính trị, an ninh. Trong khi đó, Đại sứ Phạm Quốc Trụ giải thích rằng hợp tác khu vực/vùng là “hình thức hội nhập trên cơ sở một số vùng của hai hay một số nước khác nhau gần gũi về mặt không gian địa lý thực hiện một số liên kết kinh tế hay kết nối cơ sở hạ tầng nhằm phát huy sự bổ trợ lẫn nhau về nguồn lực của các vùng này để phát triển kinh tế”7.
Nhìn chung, mỗi quan niệm đều đưa ra một khía cạnh của hợp tác tiểu vùng tuy nhiên từ tổng quan các khái niệm, định nghĩa tiểu vùng, hợp tác tiểu vùng nêu trên, có thể khái quát hợp tác tiểu vùng như sau: Hợp tác tiểu vùng là hình thức hợp tác xuyên quốc gia giữa các vùng lãnh thổ của quốc gia hoặc giữa các quốc gia trong cùng một tiểu khu vực có sự gần gũi nhau về địa lý. Hợp tác này sẽ thông qua việc mở của, giảm các rào cản thương mại, đầu tư, tăng cường kết nối nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội cho các bên tham gia hợp tác. Các bên tham gia sẽ dựa trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và thống nhất nội dung, hợp tác thông qua Hội nghị cấp cao, Hội nghị cấp Bộ trưởng hoặc thông qua các diễn đàn đa phương định kỳ. Quá trình hình thành và phát triển của Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng Sông Mê Kông là con sông dài nhất ở khu vực Đông Nam Á và lớn thứ 12 trên thế giới (4.800km), khởi nguồn từ cao nguyên Tây Tạng chảy theo hướng Bắc Nam qua 6 quốc gia: Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.
Đây là con sông được đánh giá có lưu lượng nước, tính đa dạng sinh học rất cao8.vn/toan-cau-hoa-hoi-nhap-kinh-te/2014-hoi-nhap-quoc-te-mot-so-van-de- ly-luan-va-thuc-tien (Phạm Quốc Trụ (2014), Hội nhập quốc tế: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn) 8 https://vi.org/wiki/M%C3%AA_K%C3%B4ng 19 z Hình 1.1: Bản đồ các quốc gia thuộc GMS (Nguồn: TTXVN9) Xét về những giá trị lợi ích của sông Mê Kông mang lại cho các quốc gia thuộc khu vực này phải kế đến đầu tiên chính là giá trị thủy điện. Hiện nay, các công trình thủy điện trên dòng nhánh và dòng chính sông Mê Kông ở Trung Quốc có công suất khoảng 16.000 MW, chủ yếu cung cấp điện cho các đô thị và công nghiệp ngoài lưu vực. Cũng chính nhờ dòng sông này, các quốc gia trong khu vực sông Mê Kông có thể phát triển các hoạt động kinh tế (nông nghiệp, thủy sản, v.), giao thông, thương mại và du lịch10. Xét về mặt hợp tác khu vực sông Mê Kông, có thể thấy rằng sự hợp tác đầu tiên phải kể đến chính là việc khai thác nguồn nước trên sông với sự ra đời của Ủy hội sông Mê Kông quốc tế vào năm 1957 (hay Ủy hội Mê Kông) với sự tham gia 9 https://infographics.vn/3-tru-cot-hop-tac-kinh-te-tieu-vung-mekong-mo-rong/9940.vna 10 TS Lê Văn Mỹ (2016), Trung Quốc trong hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng: Tác động và ảnh hưởng, Nxb Khoa học Xã hội.
20 z của 4 quốc gia là Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam Cộng hòa. Cơ quan này đã trở thành Ủy ban lâm thời về điều phối nghiên cứu Hạ lưu lưu vực sông Mê Kông vào năm 1978. Tuy nhiên, hoạt động của ủy ban này bị gián đoạn do chiến tranh mãi tới năm 1995, Ủy hội sông Mê Kông quốc tế mới tái thành lập với sự tham gia của 4 thành viên Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam (Xem bảng 1.1) Quốc gia Diện tích % so với Đóng góp lưu vực (km2) toàn lưu vực (%) dòng chảy lưu vực Trung Quốc 165.1: Lƣu vực sông Mê Kông và 6 nƣớc ven sông (Nguồn: Ủy hội sông Mê Kông) Tiếp đến, từ đầu thập kỷ 90, xu thế hợp tác, phát triển và hội nhập đã trở thành xu thế chủ đạo, điều này đã tạo điều kiện cho các quốc gia thuộc Tiểu vùng sông Mê Kông xích lại gần nhau. Theo đó, việc liên kết, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, nguồn nước là những động lực thôi thúc các nước trong lưu vực sông Mê Kông tìm kiếm các cơ chế hợp tác song phương, đa phương.
Trong bối cảnh đó, Chương trình hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (Greater Mekong Subregion - GMS) được ra đời năm 1992 theo sáng kiến của ngân hàng phát triển châu Á ADB. Ban đầu GMS bao gồm các nước nằm trong lưu vực sông Mê Kông: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); năm 2004 thêm tỉnh Quảng Tây tham gia vào hợp tác này. Hợp tác GMS được đánh giá là hợp tác hiệu quả nhất trong các cơ chế hợp tác Tiểu vùng. Các sáng kiến và hoạt động trong chương trình GMS tập trung vào 9 lĩnh vực hoạt 21 z động bao gồm: Giao thông vận tải, môi trường, du lịch, bưu chính viến thông, thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, nông nghiệp và phát triển nông thôn.2: Chiến lƣợc hợp tác, các lĩnh vực hợp tác trong GMS (Nguồn: TTXVN11) * Mục tiêu hoạt động: Vào đầu những năm 90, sau khi nội chiến ở Campuchia kết thúc, hơn bao giờ hết các nước trong khu vực sông Mê Kông đã nhận thức được tầm quan trọng của hòa bình đối với phát triển kinh tế.
Đứng trước hàng loạt những khó khăn thách thức như nghèo đói, hạn chế về cơ sở hạ tầng quốc gia, giao thông vận tải, năng lượng, viễn thông, sức khỏe và giáo dục, v. Chính phủ các nước GMS nhận thức được rằng chỉ có thông qua tăng cường quan hệ hợp tác mới hy vọng vượt qua tình trạng khó khăn. Chương trình hợp tác GMS nhằm mục tiêu: Tăng cường hợp tác kết nối sâu rộng giữa các quốc gia trong tiểu khu vực 11 https://infographics.vn/3-tru-cot-hop-tac-kinh-te-tieu-vung-mekong-mo-rong/9940.vna 22 z trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, cùng chia sẻ khát vọng về sự thịnh vượng chung của khu vực. Nhằm thực hiện tầm nhìn của một tiểu vùng thịnh vượng, hài hòa và thống nhất, tăng trưởng kinh tế nhanh, tiến bộ xã hội và phát triển bền vững12.
Những kết quả ghi nhận được từ thực tiễn hợp tác đã và đang khẳng định thành công của chương trình GMS, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và tăng cường quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trong tiểu vùng. * Nguyên tắc hợp tác và cơ chế hoạt động: Tổ chức hợp tác GMS hình thành và phát triển dựa trên các nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc chung của GMS là: tự nguyện, cùng có lợi và tôn trọng chủ quyền quốc gia.