phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Phân tích những tiền đề tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của mối quan hệ kinh tế Trung Quốc – châu Phi, đặc biệt từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc. - Chƣơng 2: Nghiên cứu mối quan hệ kinh tế Trung Quốc – châu Phi thông qua 3 trƣờng hợp cụ thể là Nam Phi, Sudan và Angola trong thập niên đầu thế kỷ XXI và những thành quả mang lại cho cả Trung Quốc và các quốc gia châu Phi nói chung. - Chƣơng 3: Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và triển vọng của quan hệ hợp tác kinh tế Trung Quốc – châu Phi và bài học cho Việt Nam trong phát triển quan hệ hợp tác với châu Phi. z Chƣơng 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA QUAN HỆ KINH TẾ TRUNG QUỐC – CHÂU PHI SAU CHIẾN TRANH LẠNH 1.
Bối cảnh quốc tế và khu vực từ khi Chiến tranh lạnh chấm dứt 1. Sự chấm dứt của trật tự hai cực Bối cảnh thế giới thời kỳ Chiến tranh lạnh đƣợc đặc trƣng bởi sự đối đầu giữa hai phe Tƣ bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, sự kiện Liên Xô sụp đổ dẫn đến một sự thay đổi to lớn trong nền chính trị quốc tế, khi trật tự thế giới hai cực tan rã với sự vƣợt trội của Mỹ. Tuy nhiên, sự độc chiếm của Mỹ không duy trì đƣợc lâu.
Sự phục hồi và phát triển kinh tế nhanh chóng của Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh và nhiều nƣớc khác (Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Nam Phi…) đang hình thành một cục diện thế giới mới theo hƣớng đa cực (“nhất siêu đa cƣờng”). Tuy nhiên, “cục diện đa cực chƣa hẳn đã hình thành mà đang trải qua thời kỳ quá độ từ trật tự cũ để tiến tới một trật tự mới” [51]. Theo đó, Mỹ nổi lên là siêu cƣờng mạnh nhất so với các cƣờng quốc khác, với ƣu thế vƣợt trội trên tất cả các lĩnh vực then chốt nhƣ kinh tế, chính trị, quân sự… Việc Mỹ muốn xây dựng một trật tự đơn cực do mình chi phối cũng là điều dễ lý giải theo lập luận của các học giả thuộc trƣờng phái Chủ nghĩa Hiện thực. Tuy nhiên, quyền lực quốc tế lại không phải mục đích duy nhất của riêng Mỹ.
Tất cả mọi quốc gia đều muốn tăng khả năng ảnh hƣởng trong các vấn đề quốc tế và các tổ chức quốc tế. Bởi vậy, ảnh hƣởng của Mỹ vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các cƣờng quốc kinh tế và chính trị khác nhƣ Nhật Bản, Tây Âu, Nga, Trung Quốc… Có những quốc gia muốn giành lại quyền lợi đã mất nhƣ Nga, z cũng có quốc gia muốn có vị thế tƣơng xứng hơn trên vũ đài chính trị nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Ấn Độ, Brazil… Do đó, xu thế phát triển của trật tự thế giới trong tƣơng lai sẽ là hƣớng đến một hệ thống đa cực, trong đó, một số quốc gia sẽ nắm vai trò chủ chốt trong việc ảnh hƣởng tới cục diện thế giới. Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển Đặc điểm chủ yếu trong quan hệ giữa các nƣớc trong trạng thái “nhất siêu đa cƣờng” hiện nay vẫn tiếp tục là hợp tác, cạnh tranh và kiềm chế lẫn nhau. Quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá và sự phụ thuộc lẫn nhau buộc các nƣớc vừa hợp tác, vừa cạnh tranh nhƣng tránh đối đầu, xung đột và chiến tranh.
Rút kinh nghiệm từ Chiến tranh lạnh, các nƣớc giờ đây nhận ra rằng chạy đua về quân sự không phải là một lựa chọn khôn ngoan bởi thiệt hại mà hai bên phải gánh chịu là quá lớn, dù đó là bên thắng hay bên bại. Trong khi Liên Xô và Mỹ chi những khoản tiền khổng lồ cho chạy đua vũ trang – một sự đầu tƣ lãng phí, thì các nƣớc Tây Âu, Nhật Bản và một số nƣớc khác đã tập trung vào phục hồi và phát triển nền kinh tế bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, tranh thủ sự trợ giúp về tài chính lẫn khoa học kỹ thuật của Mỹ để làm giàu cho chính mình. Mỹ sau khi thoát ra khỏi cuộc chiến “hao tiền tốn của” với Liên Xô, chợt nhận ra những kẻ nhận viện trợ năm xƣa đã rút ngắn một cách đáng kể khoảng cách về kinh tế và kỹ thuật với mình, thậm chí, rơi vào hoàn cảnh bị chính những nƣớc đó cạnh tranh ngay ở những lĩnh vực quan trọng nhƣ thƣơng mại và kỹ thuật. Đi đôi với phát triển kinh tế là khả năng tăng cƣờng sức mạnh quốc gia mà những nƣớc này đạt đƣợc.
Trƣờng hợp ngoại lệ duy nhất ở đây có lẽ là Nhật Bản – quốc gia bại trận trong Thế chiến II và phải chịu ràng z buộc bởi những điều khoản cấm xây dựng một lực lƣợng quân đội chính quy, do vậy, Nhật Bản vẫn đang nỗ lực hết sức để cải thiện hình ảnh “chú lùn chính trị” sao cho tƣơng xứng với một “gã khổng lồ về kinh tế” của mình. Hiện nay, kinh tế trở thành trọng điểm trong quan hệ quốc tế. Các quốc gia đều ra sức điều chỉnh chiến lƣợc phát triển và tập trung vào ƣu tiên phát triển kinh tế. Những cân nhắc về địa kinh tế phần nào đã vƣợt qua những tính toán về địa chính trị trong các quyết định quốc tế bởi các nƣớc ngày càng nhận thấy sức mạnh quan trọng của mỗi quốc gia vẫn nằm ở một nền sản xuất phồn vinh, một nền tài chính lành mạnh và một nền công nghệ trình độ cao đi kèm với một sức mạnh quân sự.
“Tất cả tạo nên sự hƣng thịnh và suy vong không chỉ của các cƣờng quốc mà cả các quốc gia khác trong một thế giới phức tạp, đan xen và phụ thuộc nhau” [51]. Bên cạnh đó, xu thế hình thành các tổ chức với các quy mô từ khu vực đến quốc tế đang diễn ra dồn dập ở hầu khắp các châu lục, thậm chí liên châu lục. Trào lƣu nhất thể hoá khu vực phát triển mạnh trong thập niên 90 sẽ tiếp tục gia tăng cả về lƣợng và chất trong những năm đầu thế kỷ XXI, cùng với quá trình toàn cầu hoá sẽ ảnh hƣởng sâu sắc đến các lĩnh vực của đời sống quốc tế, mang lại cả những thuận lợi và khó khăn đến cho mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập vào những thể chế chung đó [56]. Tầm quan trọng của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Cùng với sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta, Mỹ trở thành siêu cƣờng duy nhất có khả năng lãnh đạo thế giới sau Chiến tranh lạnh trong một thời gian dài. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nhờ z vào toàn cầu hóa, nhiều chủ thể quốc tế bao gồm các quốc gia và các tổ chức khu vực, đang muốn vƣơn lên, khẳng định vị thế của mình trên vũ đài chính trị, trong đó có thể kể đến Nhật Bản, EU, Trung Quốc và nhiều quốc gia đang phát triển khác ở châu Á - Phi, Mỹ Latinh. Sự thay đổi mạnh mẽ này đã khiến châu Á – Thái Bình Dƣơng trở thành đích ngắm của nhiều quốc gia và tổ chức khu vực. Khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng có tổng số dân chiếm khoảng hơn ½ dân số thế giới, là khu vực có trữ lƣợng dầu mỏ, khí đốt rất lớn.
Xét về không gian địa lý, khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng bao gồm một tập hợp phức tạp các chủ thể, trong đó có những nƣớc phát triển nhƣ Mỹ, Nhật Bản, Canada, Australia; các nƣớc thuộc nhóm công nghiệp mới (NICs) cũng nhƣ các nƣớc đang phát triển, có tiềm năng phát triển và khả năng ảnh hƣởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu nhƣ các nƣớc ASEAN, Chile và đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ. Sức mạnh chính trị và tốc độ phát triển kinh tế của khu vực này tăng lên nhanh chóng so với các khu vực khác trên thế giới. Cùng với việc Trung Quốc vƣơn lên chiếm lĩnh vị trí nền kinh tế lớn thứ hai của thế giới, cán cân kinh tế thế giới đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ về phía châu Á – Thái Bình Dƣơng với 3 nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản. Hiện nay, xuất khẩu của khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng chiếm 30% tổng lƣợng xuất khẩu của thế giới, kim ngạch thƣơng mại mỗi năm giữa khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng và Mỹ vƣợt 1000 tỉ USD, dự trữ ngoại hối chiếm 2/3 của toàn thế giới [44].
Bên cạnh Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dƣơng (APEC) và các cơ chế hợp tác đa phƣơng – khu vực vẫn đang vận hành, một số nƣớc còn đang tiến hành đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng (TPP) nhằm tự do hóa thƣơng mại, thu hút z đầu tƣ giữa các nƣớc thành viên, thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế. Theo “Báo cáo Khảo sát tình hình Kinh tế - Xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng năm 2011” do Ủy ban Kinh tế - Xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng (ESCAP) của Liên Hợp Quốc, các nƣớc đang phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng tiếp tục là ngƣời cầm lái nền kinh tế toàn cầu trong năm 2011 nhờ tốc độ tăng trƣởng cao hơn mức trung bình thế giới của mình. Đồng thời “khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng nổi lên từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nhƣ là ngƣời điều khiển tăng trƣởng, neo lại sự ổn định của nền kinh tế thế giới” và “Đây là cơ hội mang tính lịch sử để có thể cân bằng lại cấu trúc kinh tế khu vực theo chiều hƣớng có lợi cho bản thân nó nhằm duy trì tính năng động cùng với tăng cƣờng kết nối và phát triển khu vực một cách cân xứng và biến thế kỷ XXI này thành một thế kỷ thực sự của châu Á – Thái Bình Dƣơng” [44]. Sự trỗi dậy của Trung Quốc trong thời gian qua vừa là cơ hội cho các quốc gia, song cũng là “mối đe dọa tiềm tàng” của các cƣờng quốc trên thế giới, đặc biệt là Mỹ.
Trung Quốc không những đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới mà còn đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình giải quyết hòa bình khu vực và trên thế giới. Những động thái trên của Trung Quốc đã khiến Mỹ phải quay trở lại địa bàn chiến lƣợc châu Á – Thái Bình Dƣơng sau một thời gian dài quên lãng để tập trung vào chiến trƣờng Afghanistan, Iran, Iraq…. Trong “Chiến lƣợc quốc gia cho thế kỷ XXI”, Mỹ xác định khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng là một địa bàn quan trọng đối với an ninh quốc gia [46].