mở đầu cho sự thống nhất về kinh tế chính trị, tiền tệ ở châu Âu. Theo hiệp ớc Maastrich ký ngày 7/2/1992 Cộng đồng châu Âu đổi tên thành liên minh châu Âu và chính thức vận hành từ ngày 1/1/1993. EU gồm 15 thành viên, mục đích chính của EU là tạo ra sự hợp tác thống nhất cao, tạo điều kiện phát triển kinh tế các nớc thành viên củng cố sức mạnh toàn khối, tiến tới thành lập khu vực tiền tệ (tạo sự liên kết thống nhất ở mức độ cao từ kinh tế đến tiền tệ) để EU có đủ sức mạnh cạnh tranh và hợp tác có hiệu quả với các nớc, các khối liên minh khác. Sau hơn 40 năm ra đời và phát triển, liên minh châu Âu đã đạt đợc những thành tựu đáng kể, đã xây dựng và củng cố mối quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nớc thành viên và đã tạo ra đợc thị trờng chung về hàng hoá và dịch vụ.
Mục tiêu lâu dài liên minh châu Âu là nhằm thống nhất châu Âu bằng con đờng hoà bình, bằng sức mạnh của hợp tác và liên kết kinh tế quốc tế. Thực tế liên minh châu Âu đã có thị trờng chung về hàng hoá và dịch vụ, đã có sự liên kết hợp tác trong lĩnh vực tài chính tiền tệ. Song để thị trờng chung thực sự trở nên thống nhất thì các rào cản tiền tệ phải đợc loại bỏ hoàn toàn. Điều này chỉ có đợc khi có duy nhất một đồng tiền chung đợc lu hành và đợc điều hành thống nhất bằng một chính sách tiền tệ chung.
Chính vì vậy mà liên minh tiền tệ châu Âu (EMU) đợc ra đời mà nội dung chính của nó là cho ra đời và vận hành đồng tiền chung trong toàn khối. Nội dung chính của hội nghị Maastrich đã đợc chính thức hoá trong hiệp ớc Maastrich (ký ngày 7/2/1992). Cũng theo hiệp ớc này đã khẳng định công việc chuẩn bị cho ra đời đồng tiền chung duy nhất trong khuôn khổ xây dựng liên minh tiền tệ 3 giai đoạn và 5 tiêu thức gia nhập làm căn cứ cho tất cả các nớc mong muốn và có đủ điều kiện gia nhập khối đồng tiền chung (khối EURO). Liên minh tiền tệ châu Âu là tiến tới hoà nhập các chính sách kinh tế, tiền tệ của các nớc thành viên EU là khâu không thể thiếu đợc trong quá trình chuẩn bị cho ra đời đồng tiền chung châu Âu.
Liên minh tiền tệ châu Âu. Mục tiêu của liên minh tiền tệ châu Âu là thống nhất xây dựng một chính sách tiền tệ chung, phát hành đồng tiền chung để thị trờng chung châu Âu thực sự thống nhất, đồng thời tạo thế đối trọng về tài chính với các khu vực khác chủ yếu là Nhật, Mỹ từ việc thống nhất tiền tệ: 2.1 Quá trình hình thành của Liên minh tiền tệ Châu Âu. Liên minh kinh tế tiền tệ châu Âu (EMU) là sản phẩm trực tiếp của hiệp ớc Maastrich ký ngày 7-2-1992, giai đoạn mới của tiến trình liên kết châu Âu. Thực ra tiến trình xây dựng EMU đã đợc đề cập từ rất sớm, với những bớc thăng trầm nhất định.
Ngay từ hiệp ớc Rome một số điều khoản đã đợc đề cập đến có liên quan tới hợp tác các chính sách tiền tệ và các chính sách hối đoái. Ngay lúc đó, ngời ta đã tranh luận về vấn đề: Một thị trờng chung không biên giới phải đợc củng cố bằng một đồng tiền chung. Nhng trên thực tế, chỉ đến sau năm 1971 các nớc châu Âu mới thực sự quan tâm vì trớc đó tiền tệ của các nớc này vẫn đợc cố định với đồng USD trong hệ thống Bretton Woods. Năm 1971 hệ thống Bretton Woods hoàn toàn sụp đổ các đồng tiền châu Âu đợc thả nổi hoàn toàn.
Thay đổi tự do theo cung cầu trên thị trờng không làm cho tỷ giá của các nớc này ổn định hơn, mà trái lại càng thêm trao đảo mạnh (do đầu cơ tiền tệ ngày càng ra tăng và sự chu chuyển về vốn mạnh mẽ giữa các nớc xuất phát từ sự khác biệt về lãi suất) thêm vào đó là sự giảm giá của đồng USD làm các nớc châu Âu co cụm lại gần nhau trong vấn đề tiền tệ. Khi đồng USD giảm giá thì dự trữ quốc gia bằng đồng USD sẽ giảm xuống buộc các nớc phải tăng dự trữ để đảm bảo giá trị thực tế của dự trữ quốc gia cùng với sự mất giá của USD, đã thúc đẩy họ tìm một đồng tiền khác ổn định hơn làm cơ sở thay cho đồng USD ngày một mất giá. Năm 1969, một cuộc họp cấp cao của EEC đã yêu cầu những vị Bộ trởng Bộ Tài chính của mình cùng với Uỷ ban của cộng đồng phác thảo ra một kế hoạch từng bớc tiến tới liên minh kinh tế - tiền tệ. Năm 1970 nhóm làm việc dới sự lãnh đạo của thủ tớng Luxembua lúc đó là Pierre Werner đã đa ra một kế hoạch đầy tham vọng: "Thực hiện liên minh tiền tệ" trong vòng 10 năm (đợc gọi là kế hoạch Werner).
Nội dung của kế hoạch có nhiều điểm giống với Hiệp ớc Maastricht. Nhng kế hoạch này đã thiếu một tiền đề tiên quyết để thành công. Không nh hiệp ớc Maastricht, nó không đợc ký kết ràng buộc nh một hiệp ớc đợc phê duyệt và có giá trị pháp lý nh một công ớc quốc tế, trái lại trong từng công đoạn của nó với tất cả các chi tiết đều phải đợc quyết định mới. Chính vì vậy kế hoạch này đã thất bại ở giai đoạn thứ 2.
Cùng với hàng loạt các biến cố xảy ra trong tình hình kinh tế chính trị lúc đó đã làm tan kế hoạch này. Cuối những năm 1970 trớc sự suy thoái về kinh tế kéo dài đặc biệt là trớc thế sút kém của một Cộng đồng châu Âu phân tán về thị trờng tiền tệ, trong so sánh với Mỹ và Nhật, đồng thời cùng với việc đồng USD tiếp tục giảm giá trong cuối những năm 70. Các thành viên châu Âu lại một lần nữa cùng nhau thử sức trong vấn đề liên kết tiền tệ. Theo sáng kiến của Tổng thống Pháp Giseard de Stanh và thủ tớng Đức Helmut Schmidt, hệ thống tiền tệ châu Âu đã ra đời 13-3-1978 (EMS).
Mục đích của EMS là duy trì tỷ giá cố định trong toàn khối và tỷ giá của cả khối sẽ thay đổi theo thị trờng. Đó thực chất là một hệ thống thả nổi có điều tiết. Cùng với sự ra đời của EMS là sự ra đời của đơn vị tiền tệ châu Âu: đồng ECU (1978), đây thực chất là một "giỏ tiền tệ". Giá trị của đồng ECU đợc xác định trên cơ sở giá trị của "một giỏ tiền tệ" bao gồm một số lợng cố định mỗi đồng tiền trong cộng đồng.
Số lợng mỗi đồng tiền này lại đợc xác định tuỳ thuộc vào tiềm lực kinh tế của mỗi nớc. Đồng ECU cũng có chức năng nhất định nh tính toán, thanh toán, dự trữ. Song rất hạn chế trong một phạm vi nhất định, là đơn vị tính toán đồng ECU là cơ sở tính tỷ giá giữa các đồng tiền trong cộng đồng, đồng thời nó còn là cơ sở xác định ngân sách cộng đồng, thuế, giá cả nông nghiệp. Là phơng tiện thanh toán, đồng ECU là cơ sở xác định và thanh toán các khoản nợ của các ngân hàng trung ơng khi các ngân hàng này phải tiến hành các can thiệp để giữ tỷ giá trong giới hạn quy định trên thực tế đồng ECU không phải là một đồng tiền thực sự, mà là một đồng tiền nặng vô danh nghĩa.
Thành tích lớn nhất đạt đợc của EMS là tạo ra đợc một vùng tiền ổn định, giảm đợc các rủi ro do sự biến động của đồng USD, và đồng Yên Nhật, giúp các nớc châu Âu giảm đợc lạm phát. Nhng đến 1992 EMS đã xụp đổ, một mặt là do những nguyên nhân kinh tế khách quan, một mặt là do những thiếu sót về tính chất và cơ cấu trong chính bản thân EMS một trong những lý do đó là sự biến đổi kinh tế trong hệ thống rất nhanh, và sự biến đổi này không tơng ứng nhau giữa các nớc, dẫn tới mâu thuẫn với tỷ giá cố định trong hệ thống EMS và mâu thuẫn đã bùng nổ, phá vỡ thế ổn định. Hệ thống tiền tệ châu Âu bộc lộ những hạn chế trong lúc cục diện thế giới 2 cực đã chấm dứt, vấn đề chính trị đã gác lại, các thế lực đều dồn sức chuẩn bị lực lợng để giành địa vị tối u trong tơng lai, chủ yếu là chạy đua xây dựng củng cố thế lực và kinh tế, cục diện 2 cực chấm dứt, những trật tự mới đang dần hình thành xu hớng hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ hình thành các khu vực kinh tế. Trong bối cảnh đó, Cộng đồng châu Âu tuy đã đạt đợc những thành tựu nhất định trong quá trình liên kết, song hầu hết các mặt Cộng đồng châu Âu còn thua kém Mỹ, Nhật.
Trong cuộc cạnh tranh quyết liệt với các trung tâm, khu vực kinh tế trong giai đoạn mới. Trớc hết các nớc châu Âu phải thống nhất chặt chẽ hơn để tạo ra một sức mạnh tổng hợp, đáp ứng những cơ hội và thách thức mới. Trớc tình hình đó, vào năm 1989 báo của J.Delors - Chủ tịch uỷ ban châu Âu lúc đó đã ra đời, và vạch ra những điều kiện và chơng trình cụ thể của một liên minh kinh tế - tiền tệ. Hiệp ớc Maastricht ra đời chính thức hoá dự án về đồng tiền chung.
Khẳng định quá trình xây dựng liên minh kinh tế và tiền tệ (EMU) gồm 3 giai đoạn và xác định nội dung công việc cụ thể của từng giai đoạn. * Giai đoạn 1 từ 1-7-1990 đến 31-12-1993 nhiệm vụ của giai đoạn này là phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách kinh tế giữa các nớc, giúp các nớc đạt đợc các chỉ tiêu để ra nhập khu vực đồng EURO cụ thể hoàn chỉnh thị trờng chung châu Âu đặc biệt là hoàn chỉnh quá trình lu thông và tự do vốn, đặt nền kinh tế quốc gia dới sự giám rất nhiều bên, phối hợp chính sách tiền tệ giữa các nớc trong phạm vi "uỷ ban thống đốc của ngân hàng trung ơng để ổn định tỷ giá giữa các đồng tiền". * Giai đoạn 2: từ 1-1-1994 đến 1-1-1999 nhiệm vụ của giai đoạn này là tiếp tục phối hợp chính sách kinh tế, tiền tệ nhng ở mức cao hơn, để chuẩn bị điều kiện cho sự ra đời của đồng EURO. Trong giai đoạn, này các tiêu thức gia nhập EMU sẽ đợc rà soát lại một cách kỹ lỡng giữa các nớc để đến cuối giai đoạn này có thể quyết định cụ thể nớc nào sẽ gia nhập EMU.