CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong thực tiễn, để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội, Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý đã tạo lập và sử dụng các công cụ quản lý để truyền dẫn các tác động của mình lên các đối tượng, khách thể quản lý. Chính nhờ các công cụ quản lý mà nhà nước truyền tải được các ý định và ý chí của mình lên mỗi con người, mỗi bộ phận trong hệ thống, trên toàn bộ các vùng, các khu vực, các ngành của nền kinh tế. Các công cụ quản lý kinh tế - xã hội được Nhà nước sử dụng bao gồm: Kế hoạch, Pháp luật, các chính sách kinh tế - xã hội, bộ máy nhà nước, tài sản của nhà nước, hệ thống thông tin nhà nước, văn hoá dân tộc. Chính sách là một loại quyết định quản lý mà tầm ảnh hưởng của nó lớn hơn các quyết định tác nghiệp.
Đó là các quyết định chung, hướng dẫn đối tượng quản lý thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Chính sách tồn tại ở các cấp của hệ thống quản lý nó bao gồm: Chính sách quốc gia, chính sách ngành, chính sách địa phương, vũng lãnh thổ, công ty và bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị xã hội. Trong kinh tế có các chính sách cơ bản sau: Chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả, đầu tư, thu nhập, ngân sách, tiết kiệm.Chính sách là những tài liệu chỉ dẫn, nó có phạm vi co dãn nhất định, việc đề ra các chính sách phù hợp sẽ khơi dậy nhiều tiềm năng mới nhờ nó mà nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Vì đối tượng quản lý luôn vận động và biến đổi qua từng thời kỳ, nên một chính sách cứng nhắc sẽ mất đi tính hợp lý của nó theo thời gian.
Vì vậy, 12 z việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách luôn là điều cần thiết trong bất kể giai đoạn phát triển nào của nền kinh tế. Tiếp cận theo hệ thống, chính sách là một hệ thống gồm hai nhóm lớn: Nhóm thứ nhất là các chính sách kinh tế, chủ yếu gồm có các chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách giá cả, chính sách kinh tế đối ngoại. Nhóm thứ hai là các chính sách xã hội, chủ yếu bao gồm có chính sách dân số và lao động, chính sách giáo dục, chính sách y tế, chính sách bảo đảm xã hội, chính sách văn hoá, chính sách khoa học công nghệ, chính sách bảo vệ môi trường. Có thể thấy rằng chính sách đầu tư nước ngoài là một bộ phận của chính sách kinh tế đối ngoại, có liên kết chặt chẽ với các chính sách khác thành một hệ thống, hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện mục tiêu chung của chính sách kinh tế - xã hội.
Theo dòng chảy của vốn đầu tư, chính sách đầu tư nước ngoài được phân thành chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển kinh tế trong nước và chính sách đầu tư ra nước ngoài. Theo tính chất, chính sách đầu tư nước ngoài có thể được chia thành chính sách đầu tư tự do và chính sách đầu tư hạn chế. Theo nội dung, chính sách đầu tư nước ngoài có thể dược chia thành: - Chính sách mặt hàng (ngành và lĩnh vực đầu tư) - Chính sách thị trường (đối tác và địa bàn đầu tư) - Chính sách hỗ trợ đầu tư (tài chính, lao động, đất đai.) 13 z Theo chức năng quản lý và điều tiết nền kinh tế, chính sách đầu tư nước ngoài có các vai trò: - Khuyến khích hay hạn chế dòng vốn đầu tư vào trong nước hoặc dòng vốn đầu tư ra nước ngoài. - Bảo vệ thị trường trong nước khi có khả năng bị đầu tư nước ngoài xâm lấn nghiêm trọng.
- Là công cụ quan trọng góp phần định hướng hành vi của các chủ thể kinh tế có yếu tố nước ngoài để cùng hướng tới những mục tiêu của đất nước. - Để giải quyết những vấn đề bức xúc phát sinh và điều tiết những mất cân đối, những hành vi không phù hợp, nhằm tạo một hành lang pháp lý cho các hoạt động đầu tư nước ngoài theo các mục tiêu đã đề ra. - Điều chỉnh mối quan hệ giữa các loại hình đầu tư, các hình thức đầu tư, mối quan hệ giữa các ngành, các vùng lãnh thổ trong việc thu hút đầu tư Để điều tiết nền kinh tế ở tầm kinh tế vĩ mô, Nhà nước vừa có chức năng hoạch định, thực thi các chính sách vừa trực tiếp là một thành viên của nền kinh tế đa thành phần. Với chức năng hoạch định, Nhà nước quyết định chủ trương, định hướng và quy hoạch các chương trình kinh tế, xác định mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế chung của đất nước.
Với chức năng điều hành, Nhà nước tạo lập môi trường đầu tư, ban hành pháp luật đưa ra cơ chế, chính sách khuyến khích và các biện pháp quản lý kinh tế vĩ mô, hướng dẫn giám sát và kiểm tra việc thực thi pháp luật. Là một trong những thành phần kinh tế, Nhà nước trực tiếp tham gia đầu tư vào các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội có thể sản xuất hàng hoá song rất hạn chế, thông qua các doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của mình. 14 z Nếu xét trên phương diện cụ thể, trong quản lý và điều hành nền kinh tế của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, có thể khái quát: Chính sách đầu tư nước ngoài là các quyết định của nhà nước, của các cấp nhằm quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản. Chính sách đầu tư nước ngoài phản ánh các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp, công cụ, các nguyên tắc và phương thức hành động của Nhà nước trong hoạt động đầu tư nước ngoài nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng của đất nước.
Để thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, các nước đang phát triển đã hoạch định những chính sách riêng phù hợp với những đặc thù của mình. Tuy có nhiều nét riêng biệt, song chính sách thu hút ĐTTTNN của tất cả các nước đều là một dạng chính sách thuộc lĩnh vực kinh tế đối ngoại, được ban hành nhằm tăng cường thu hút ĐTNN để tận dụng hết các nguồn lực trong nước như tài nguyên, đất đai, lao động, phục vụ cho việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế vĩ mô đã định. Chính sách thu hút ĐTTTNN còn là cầunối quan trọng nối liền nền kinh tế quốc gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế. Như vậy, chúng ta có thể hiểu chính sách thu hút ĐTTTNN dưới dạng khái quát: Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm một hệ thống các quyết định thích hợp mà Nhà nước áp dụng, để điều chỉnh các hoạt động thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc gia trong một thời kỳ nhất định, nhằm đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó.
Chính sách thu hút ĐTTTNN là một trong những yếu tố quan trọng thuộc môi trường đầu tư nước ngoài. Các chính sách đó thể hiện thông qua các văn bản 15 z pháp luật. Chính sách thu hút ĐTTTNN có thể kể đến là Chính sách đảm bảo đầu tư; các Chính sách ưu đãi tài chính, Chính sách lao động và Chính sách cơ cấu; và có các Chính sách hỗ trợ khác như chính sách giá, thị trường, phát triển cơ sở hạ tầng. Vai trò của chính sách thu hút ĐTTTNN Mục đích cuối cùng của các nhà đầu tư là tìm kiểm lợi nhuận tối đa, bởi vậy trước khi quyết định đầu tư vào nước nào họ nghiên cứu rất kỹ các yếu tố liên quan đến khả năng sinh lợi khi tổ chức sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh việc tìm hiểu các điều kiện cần thiết cho sản xuất như cơ sở hạ tầng, nguyên nhiên vật liệu, lao động máy móc thiết bị., các nhà đầu tư còn xem xét khả năng tiêu thụ sản phẩm và đặc biệt là các cơ chế chính sách về đầu tư nước ngoài mà nước sở tại ban hành. Có nhiều nguyên nhan gây rủ ro, dẫn đến đầu tư bị thua lỗ, bên cạnh các nguyên nhân bất khả kháng như: thiên tai, địch hoạ, sự bất ổn về mặt chính trị, xã hội, là các nguyên nhân có thể khắc phục được thông qua việc ban hành các quy định, chính sách hợp lý, việc quy định giá thuê đất, thời gian cho thuê đất hợp lý, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư không những thu hồi được vốn mà còn tạo ra lợi nhuận. Các chính sách về thuế, về tuyển dụng lao động, về sử dụng tài nguyên thiên nhiên, về bảo vệ môi trường. Một khi tất cả các chính sách liên quan đến đầu tư nước ngoài, sẽ khuyến khích họ tăng vốn đầu tư nhằm thu được lợi ích kinh tế cao hơn.
Một cơ chế bất hợp lý với các thủ tục rườm rà, gây phiền phức cho các nhà đầu tư trong việc tổ chức, điều hành doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cũng là một trong những lý do khiến học phân vân, trước câu hỏi có nên bỏ vốn ra để đầu tư hay không. Một thực tế hiển nhiên, là không ai có thể ép buộc các nhà đầu tư phải xuất vốn đầu tư vào khu vực này, lĩnh vực kinh tế kia, mà đó là quyền tự quyết của họ. Tuy nhiên, mỗi quốc gia có thể dùng cơ 16 z chế, chính sách để lái họ đi theo hướng mà quốc gia đó đã định. Ví dụ, một quốc gia muốn ưu tiên phát triển ngành kinh tế mũi nhọn nào đó, tại một địa bàn nào đó thì có thể ban hành mức thuế ưu tiên cho ngành đó, địa bàn đó và có một cơ chế đầu tư thuận lợi, với động thái này khả năng thu hút vốn đầu tư cho ý định đề ra là rất lớn.
Qua những phân tích trên chúng ta có thể thấy rõ vai trò quan trọng của cơ chế, chính sách không những có tác dụng thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài mà còn có thể lái được các nhà đầu tư hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế, địa bàn kinh tế mà chúng ta lựa chọn.