PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Mỗi quốc gia và địa phƣơng đều có tiềm năng, thế mạnh, lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh riêng từ đó hình thành và phát triển những lĩnh vực, ngành, sản phẩm có giá trị gia tăng cao, có lợi thế cạnh tranh để trở nên giàu có, đem lại nhiều lợi ích cho ngƣời dân, doanh nghiệp. Vì thế phát huy lợi thế so sánh, phát huy lợi thế cạnh tranh để phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững của quốc gia cũng nhƣ của mỗi địa phƣơng cấp tỉnh là vấn đề khách quan và có tính cấp bách. Nói cụ thể hơn vấn đề phát huy lợi thế cạnh tranh để thúc đẩy phát triển kinh tế của thành phố Đà Nẵng cần đƣợc nghiên cứu bởi vì: Về mặt lý luận: Để thúc đẩy phát triển kinh tế của một địa phƣơng cấp tỉnh là vấn đề còn nhiều tranh luận về mặt học thuật.
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hiểu rõ bản chất của lợi thế cạnh tranh là yếu tố cơ bản để phát huy lợi thế cạnh tranh phục vụ phát triển quốc gia/tỉnh. Đây đƣợc xem là một vấn đề cấp bách nhằm giúp cho các địa phƣơng có những cơ sở khoa học, luận chứng trong việc hoạch định chính sách phát triển, đặc biệt phù hợp với các địa phƣơng trong điều kiện của Việt Nam hiện nay. Cho đến nay lợi thế cạnh tranh thƣờng đƣợc đề cập dƣới góc độ kinh doanh của doanh nghiệp là chủ yếu, còn ở góc độ lãnh thổ, quốc gia thì dƣờng nhƣ mới đƣợc nghiên cứu một cách sơ sài, chƣa có sự nghiên cứu thỏa đáng. Lợi thế cạnh tranh đối với địa phƣơng cấp tỉnh là gì, phát huy lợi thế cạnh tranh của địa phƣơng cấp tỉnh có nội hàm ra sao, đánh giá hiệu quả phát huy lợi thế cạnh tranh để phát triển kinh tế của một địa phƣơng cấp tỉnh thế nào.
đang là những vấn đề chƣa tƣờng minh. Nghiên cứu sinh muốn góp phần làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận đối với những vấn đề nêu trên để giải quyết những vấn đề thực tiễn Việt Nam đặt ra hiện nay. Về mặt thực tiễn: Trong quá trình phát triển và khảo sát của nghiên cứu sinh, vấn đề nhận thức của địa phƣơng cấp tỉnh là yếu tố rất quan trọng, nhận diện một cách đầy đủ, chính xác những lợi thế canh tranh của tỉnh mình. Đối với thành phố Đà Nẵng thì điều này nhƣ thế nào? Chính vì vậy những nhận diện đƣợc xem là lợi thế cạnh tranh của Đà Nẵng cần đƣợc nghiên cứu và các chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế trong thời gian vừa qua vẫn còn nhiều điểm hạn chế nhƣ thế nào.
Xuất phát từ đó, nghiên cứu sinh nhận thấy những vấn đề cần khắc phục trong quá trình phát triển kinh tế thành phố Đà Nẵng đến năm 2030. Đà Nẵng là một trong số ít địa phƣơng cấp tỉnh có sự phát triển năng động luan an 2 hàng đầu ở Việt Nam. Trong quá trình phát triển, Đà Nẵng đƣợc đánh giá là một nơi có tiềm năng, thế mạnh vƣợt trội so với nhiều địa phƣơng khác ở ven biển miền Trung. Là thành phố cảng biển xuất hiện từ rất sớm, lại có sân bay quốc tế và có hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật vƣợt trội, nơi tập trung nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, hội tụ nhiều nhân lực chất lƣợng cao, điều kiện sống mang lại nhiều điểm ƣu đến mức rất nhiều ngƣời mong muốn về Đà Nẵng sinh sống.
Việc phát huy các thế mạnh, các lợi thế đó để phát triển kinh tế ra sao và đã đạt hiệu quả chƣa thì chƣa đƣợc nghiên cứu thỏa đáng. Trong thời gian tới phát huy các thế mạnh, lợi thế đó nhƣ thế nào để thúc đẩy kinh tế của thành phố phát triển là vấn đề cấp bách, là vấn đề rất cần đƣợc nghiên cứu làm rõ để thành phố này xứng đáng là “nơi đáng sống nhất Việt Nam” trong bối cảnh toàn cầu hóa và tác động lớn của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng nhƣ trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu và rộng. Trƣớc bối cảnh nhƣ đã nói tới ở trên, nghiên cứu sinh chọn vấn đề Ph t hu i thế c nh tranh th c đẩ ph t triển inh tế th nh phố Đ N ng đến năm 2030” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế. Thông qua đó góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận, cung cấp căn cứ khoa học về mặt thực tiễn cho thành phố Đà Nẵng.
Hoạch định chính sách phát huy lợi thế cạnh tranh để phát triển kinh tế có hiệu quả cao và bền vững hơn. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan Nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh trƣớc đây hầu hết nghiên cứu dƣới dạng ngành, sản phẩm hay doanh nghiệp nhƣng không nhiều nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh của một địa phƣơng, vùng hay quốc gia. Kể từ khi M.Porter giới thiệu Lợi thế cạnh tranh quốc gia (1990) thì mới có cách nhìn nhận toàn diện và nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này với mục đích lý giải sự giàu có của các quốc gia không dựa trên lý thuyết cũ về lợi thế so sánh (khi các rào cản thƣơng mại đã bị dỡ bỏ) và sự phát triển từ lợi thế so sánh hình thành nên lợi thế cạnh tranh của các quốc gia nhƣ thế nào [24]. Trong luận án này, nghiên cứu sinh xin đƣợc tìm hiểu một số công trình tiêu biểu nhƣ sau: 2.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến lợi thế cạnh tranh 2. Lợi thế cạnh tranh Trong cuốn sách Lợi thế cạnh tranh của M. Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp có thể là chi phí, khác biệt hóa. Để đo lƣờng lợi thế cạnh tranh đó Porter sử dụng công cụ cơ bản để phán đoán là chuỗi giá trị bao luan an 3 gồm những phần khác nhau trong hoạt động của doanh nghiệp: Thiết kế, sản xuất, marketing và phân phối sản phẩm (tuy nhiên điều này khó có thể áp dụng cho một địa phƣơng hoặc sẽ phải xây dựng những yếu tố đó phù hợp với địa phƣơng).
Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp cũng là phạm vi cạnh tranh có thể đóng vai trò quan trọng trong lợi thế cạnh tranh thông qua ảnh hƣởng của nó lên chuỗi giá trị. Trong phạm vi hẹp (chiến lƣợc tập trung) vẫn có thể sáng tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua việc điều chỉnh theo nhu cầu riêng chuỗi giá trị, để trên phạm vi rộng hơn cũng có thể tăng cƣờng năng lực cạnh tranh thông qua khai thác quan hệ bên trong chuỗi giá trị, đáp ứng những phân khúc khác nhau; ngành hoặc khu vực địa lý khác nhau. Nhiều học giả khác cũng giống nhƣ Porter, tiếp cận lợi thế cạnh tranh từ doanh nghiệp. Điều này nhƣ một sự thật hiển nhiên, đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, của các ngành trong và ngoài nƣớc.
Lợi thế cạnh tranh xuất phát chủ yếu từ giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng. Lợi thế có thể ở dƣới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (trong khi lợi ích cho ngƣời mua là tƣơng đƣơng) hoặc việc cung cấp những lợi ích vƣợt trội so với đối thủ khiến ngƣời mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn. Porter và nhiều học giả khác đã nghiên cứu cách thức vận hành của lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp. Nghiên cứu của họ cũng làm luận cứ và cơ sở để xây dựng nên lợi thế cạnh tranh quốc gia hoặc địa phƣơng.
Nhƣng điều đó cũng cho thấy rằng, lâu nay cách hiểu về lợi thế cạnh tranh đơn thuần đƣợc hiểu đối với doanh nghiệp hoặc ngành công nghiệp nào đó. Các cách thức đo lƣờng, vận dụng.đều sử dụng cho doanh nghiệp. Lợi thế cạnh tranh đã biến chiến lƣợc từ một tầm nhìn mang tính vĩ mô trở thành một cấu trúc nhất quán của những hoạt động bên trong - một phần quan trọng của tƣ tƣởng kinh doanh quốc tế hiện đại. Cấu trúc mạnh mẽ đó cung cấp những công cụ hữu hiệu để hiểu đƣợc ảnh hƣởng của chi phí và vị thế tƣơng đối về chi phí của công ty.
Chuỗi giá trị cũng giúp các nhà quản lý phân biệt đƣợc những nguồn lực tiềm ẩn của giá trị khách hàng – điều có thể giúp doanh nghiệp đƣa ra mức giá cao và lý do tại sao sản phẩm hay dịch vụ này lại có thể thay thế so sản phẩm, dịch vụ khác. Đây cũng là bài học vận dụng để xây dựng lợi thế cạnh tranh lãnh thổ. - Theo OECD (2008) trình bày trong diễn đoàn toàn cầu về đầu tư, nghiên cứu cạnh tranh dƣới dạng chính sách giúp xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ tăng trƣởng. Những bƣớc phát triển cơ bản trong chính sách cạnh tranh và động lực của các quy luật cạnh tranh ở các nƣớc OECD; sự cạnh tranh dƣới luật của cộng đồng luan an 4 châu âu trong năm 1989 và đầu năm 1990; các trƣờng hợp cụ thể ở Úc, Áo, Bỉ, Pháp, Mỹ, Nhật.
Sự đóng góp của chính sách cạnh tranh đối với phát triển kinh tế; tổng quan về các khía cạnh khác nhau của chính sách cạnh tranh; cải tổ theo quy tắc và vai trò riêng biệt của các khu vực công và tƣ; thƣơng mại, công nghệ và các cơ hội cạnh tranh. Phân tích thay đổi công nghệ và cạnh tranh toàn cầu, sự thâm nhập công nghiệp điện tử và internet. OECD nghiên cứu động lực trong sự cạnh tranh trong đó đề cập đến vai trò của Chính phủ trong việc định hƣớng và điều tiết cạnh tranh nhấn mạnh vai trò công nghiệp điện tử trong nền kinh tế công nghiệp hoá. Nhìn chung OECD nhìn nhận cạnh tranh dƣới góc độ ngành công nghiệp và xây dựng thể chế để bảo hộ hoặc thúc đẩy sự cạnh tranh ngành công nghiệp.
Khi đó, mặc nhiên các quốc gia OECD có lợi thế cạnh tranh về ngành công nghiệp nào đó nhƣ điện tử, viễn thông hay ô tô.OECD không phân tích hay nhìn nhận lợi thế cạnh tranh dƣới góc độ quốc gia hay vùng lãnh thổ mà các nƣớc thuộc OECD tham dự [33]. Brault (2005) trình bày trong tác phẩm Chính sách và thực tiễn pháp luật cạnh tranh của Cộng hòa Pháp những yếu tố kiểm soát các hành vi lạm dụng sức mạnh kinh tế trong định giá thấp. Các thiết chế thực thi pháp luật về cạnh tranh, thẩm quyền và mối quan hệ giữa các thiết chế. Các thủ tục để điều tra vụ việc về cạnh tranh và thủ tục giải quyết các vụ việc về cạnh tranh.
Hoạt động kiểm tra giám sát của tòa án đối với việc áp dụng các quy định pháp luật về cạnh tranh [18].