Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÔNG NGHIỆP 1. Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế là một hệ thống động. Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể.
Cơ cấu kinh tế được hiểu là tương quan giữa các bộ phận trong tổng thể nền kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả số lượng và chất lượng giữa các bộ phận với nhau [12]. Như vậy, nội hàm của khái niệm cơ cấu kinh tế bao gồm các khía cạnh: - Các bộ phận hợp thành nền kinh tế. - Các mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổng thể nền kinh tế với nhau cả về mặt số lượng và chất lượng trong quá trình phát triển của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử xã hội nhất định và luôn biến động phụ thuộc vào sự biến đổi của tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới và đặc điểm kinh tế - xã hội của đất nước.
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù động, có đặc điểm là luôn có sự vận động, chuyển dịch theo các xu hướng phù hợp với quá trình phát triển kinh tế. Nếu các thước đo tăng trưởng phản ánh sự thay đổi về lượng thì xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế là thể hiện mặt chất lượng kinh tế trong quá trình phát triển. Đánh giá cơ cấu kinh tế phải được thực hiện trên cơ sở phân tích các dạng biểu hiện khác nhau của cơ cấu kinh tế. Trên phạm vi cả nước, cơ cấu kinh tế biểu hiện tập trung của chiến lược kinh tế - xã hội.
Một cơ cấu kinh tế hợp lí phản ánh sự tác động của các qui luật phát triển khách quan. Nghiên cứu cơ cấu kinh tế có ý nghĩa rất lớn đối 9 với thực tiễn phát triển kinh tế trong cùng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ: nền kinh tế quốc dân có một cơ cấu kinh tế hợp lí là cơ cấu kinh tế trong đó các ngành, các vùng, các TP KT, các loại hình SX có quy mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế thay đổi theo từng thời kì lịch sử do số lượng và tương quan tỉ lệ giữa các ngành, các vùng, các TP KT luôn có sự thay đổi.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển để giúp cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, vững chắc và có khả năng hội nhập với khu vực và thế giới. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi dần dần, từng bước cấu trúc của nền kinh tế trong phạm vi các ngành và các vùng trên lãnh thổ để thích nghi với hoàn cảnh phát triển kinh tế của một nước hay một địa phương [12]. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoài các ngành, lãnh thổ còn có chuyển dịch theo TP KT. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng góp phần làm cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh và vững chắc, mặt khác cũng làm cho nền kinh tế có khả năng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Công nghiệp CN là một ngành kinh tế trực tiếp SX ra của cải vật chất, một bộ phận hợp thành không thể thiếu được của cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Đây là hoạt động kinh tế, SX quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật. 10 Theo quan niệm của Liên Hiệp Quốc: CN là tập hợp các hoạt động SX với những đặc điểm nhất định thông quá các quá trình công nghệ để tạo ra sản phẩm.
Các sản phẩm CN bao gồm tư liệu SX và tư liệu tiêu dùng được SX bằng máy mọc thiết bị dựa trên khoa học kỹ thuật hiện đại có khả năng SX hàng loạt sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của SX và tiêu dùng. SXCN trải qua 2 giai đoạn là tác động vào đối tượng để tạo ra nguyên liệu và chế biến nguyên liệu thành sản phẩm. Đặc điểm khác biệt lớn nhất để phân biệt SXCN với các ngành kinh tế khác là tính chất phụ thuộc vào máy móc, công nghệ. SXCN là SX bằng máy móc.
Máy móc thiết bị càng hiện đại thì năng suất lao động và sản phẩm CN càng cao, giá thành SX và tỉ lệ tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng càng giảm. Vì vậy, trong SXCN, để nâng cao hiệu quả knh tế người ta không ngừng cải tiến máy móc, thiết bị công nghệ ngày càng hiện đại hơn. Hoạt động CN bao gồm 3 loại hình: CN khai thác tài nguyên, CN chế biến và các dịch vụ SX theo sau nó. Cơ cấu công nghiệp Cơ cấu CN là tổng thể bộ phận hợp thành quá trình SXCN và mối liên hệ SX giữa các bộ phận đó biểu thị bằng tỉ trọng của từng bộ phận so với toàn bộ sản phẩm CN tính theo giá trị tổng sản lượng.
Cơ cấu CN bao gồm cơ cấu theo nhóm ngành CN, theo TP KT, theo lãnh thổ và theo trình độ khoa học công nghệ. Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Cơ cấu ngành CN không bất biến mà luôn thay đổi do ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội, lịch sử, tiến bộ khoa học kỹ thuật, trình độ phát triển của sự hợp tác kinh tế và sự phân công lao động quốc tế, nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự hợp tác quốc tế. Để SXCN phát triển và không ngừng mở 11 rộng đòi hỏi ở mỗi quốc gia phải có cơ cấu ngành CN ở tỉ lệ thích hợp trong cơ cấu CN. Như vậy, chuyển dịch cơ cấu CN là sự thay đổi cơ cấu CN cả trên sự thay đổi của các bộ phận cơ cấu ngành, vùng, thành phần, mối quan hệ giữa chúng cả về số lượng và chất lượng của cơ cấu để phù hợp với môi trường kinh tế tổng thể, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững.
Chuyển dịch cơ cấu CN có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển CN nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung. Nó giúp cho ngành CN và nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, vững chắc, có khả năng hội nhập với khu vực và thế giới. Phân loại cơ cấu công nghiệp 1. Cơ cấu ngành công nghiệp Cơ cấu ngành CN là quan hệ gắn bó giữa các nhóm ngành SXCN hoặc nội bộ của nhóm ngành SXCN theo những tỉ lệ nhất định.
Có nhiều cách phân loại cơ cấu ngành CN [7]: - Căn cứ theo công dụng kinh tế của sản phẩm, ta chia CN thành hai nhóm ngành. Nhóm ngành CN nặng (A): là những ngành SX ra tư liệu SX, bao gồm các ngành CN khai thác nhiên liệu và SX điện năng, CN khai thác quặng và luyện kim, CN chế tạo máy, CN hóa chất, CN khai thác và chế biến gỗ, CN vật liệu xây dựng. Nhóm ngành CN nhẹ (B): là những ngành SX ra tư liệu tiêu dùng, bao gồm các ngành như CN thực phẩm, CN dệt may, CN sành sứ, thủy tinh, CN giày, CN in,. Tuy nhiên, cách phân ngành này chưa rõ ràng, có sự trùng lặp một số ngành.
12 - Căn cứ theo tính chất sản phẩm, CN của mỗi quốc gia được phần thành ba nhóm ngành: CN khai thác, CN chế biến và CN sản xuất và phân phối điện, khí, nước: Ngành CN khai thác:Đây là ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên, bao gồm các nguồn năng lượng (dầu mỏ, khí đốt, than,.), quặng kim loại (sắt, thiếc,.) và vật liệu xây dựng (đá, cát, sỏi,.), ngành này cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các ngành CN khác. Ngành CN chế biến:Ngành bao gồm CN chế tạo công cụ SX như chế tạo máy, cơ khí, kỹ thuật điện và điện tử, CNSX vật phẩm tiêu dùng như dệt may, chế biến thực phẩm đồ ăn uống, chế biến gỗ giấy, chế biến thủy tinh sành sứ và CNSX tư liệu sản xuất như hóa chất, hóa dầu, luyện kim và vật liệu xây dựng. Ngành CNSX và phân phối điện, khí, nước:Ngành bao gồm các ngành SX và phân phối các nguồn điện như thủy điện và nhiệt điện, gas, khí đốt và nước. Trong cơ cấu CN, cơ cấu ngành là quan trọng nhất nhất.
Cơ cấu ngành CN phản ánh được trình độ phát triển của SXCN và phân công lao động trong xã hội. Định dạng cơ cấu ngành CN trong từng giai đoạn phát triển nhất định phải phù hợp với sự phát triển của các yếu tố kinh tế, kỹ thuật, xã hội mà nền kinh tế đạt được. Cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế Cơ cấu CN theo TP KT là tương quan theo tỉ lệ giữa các TP KT tham gia vào ngành CN. Cơ cấu CN theo TP KT gắn liền với các loại hình sở hữu nhất định về tư liệu SX.
Tùy theo phương thức SX mà có các TP KT chiếm địa vị chi phối hay chủ đạo và các TP KT khác cùng tồn tại. Có nhiều cách phân loại TP KT, 13 nhưng hiện nay có thể chia cơ cấu TP KT trong CN gồm TP KT Nhà nước, TP KT ngoài nhà nước, TP KT có vốn đầu tư nước ngoài. Cơ cấu công nghiệp theo lãnh thổ Trong một lãnh thổ chia thành nhiều lãnh thổ nhỏ hơn, các lãnh thổ này phải được bố trí, quan hệ với nhau theo một tỉ lệ để tạo điều kiện phát triển CN của lãnh thổ đó. Như vậy, cơ cấu CN theo lãnh thổ là sự tương quan tỉ lệ phát triển ngành CN giữa các vùng trong phạm vi lãnh thổ.
Quá trình hình thành và phát triển cơ cấu CN theo lãnh thổ cần định hướng vào tạo lập các cực phát triển, bao gồm các điểm, các trung tâm, hành lang, vùng chuyên môn hóa SX, các bộ phận kinh tế lãnh thổ đặc biệt,. nhằm tạo điều kiện nâng cao hiệu quả đầu tư, khai thác triệt để tiềm năng đa dạng và lợi thế so sánh của các bộ phận lãnh thổ khác nhau. Một số tiêu chícơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Dựa vào các tiêu chí phản ánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế [13].