phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc đối với KKTCK. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với KKTCK tỉnh Cao Bằng. Phƣơng hƣớng và giải pháp quản lý nhà nƣớc đối với KKTCK tỉnh Cao Bằng.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI KHU KINH TẾ CỬA KHẨU 1. Nội dung cơ bản về khu kinh tế cửa khẩu 1. Khái niệm Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trƣờng đầu tƣ và kinh doanh thuận lợi và bình đẳng bao gồm: các khu chức năng, các công trình hạ tầng kỹ thuật - xã hội, các công trình dịch vụ và tiện ích công cộng với các chính sách ƣu đãi, khuyến khích, ổn định lâu dài và cơ chế quản lý thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài yên tâm đầu tƣ phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Thuật ngữ KKTCK mới đƣợc dùng ở Việt Nam trong một số năm gần đây khi quan hệ kinh tế - thƣơng mại Việt Nam và Trung Quốc có những bƣớc phát triển mới, đòi hỏi phải có mô hình kinh tế phù hợp nhằm khai thác các tiềm năng, thế mạnh kinh tế của hai nƣớc thông qua các cửa khẩu biên giới.
Trong quá trình phát triển, trải qua các biến cố thăng trầm của lịch sử, việc trao đổi hoạt động kinh tế - thƣơng mại giữa Việt Nam và các quốc gia có chung đƣờng biên giới đã diễn ra từ rất lâu, song chủ yếu là các hoạt động thông thƣờng nhƣ: xuất nhập khẩu chính ngạch, tiểu ngạch, trao đổi, mua bán thông qua các cặp chợ biên giới. Nhà nƣớc ban hành và áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả trao đổi kinh tế - thƣơng mại giữa hai quốc gia thông qua cửa khẩu biên giới. Liên quan đến về KKTCK, có một số khái niệm nhƣ: “giao lưu kinh tế qua biên giới”. Ở đây theo nghĩa hẹp, khái niệm này bao gồm các hoạt động trao đổi thƣơng mại, trao đổi hàng hóa giữa các cƣ dân, các doanh nghiệp tại địa bàn khu vực biên giới, nơi có các cửa khẩu biên giới.
Nó là hình thức diễn ra 7 phổ biến ở tất cả các quốc gia có đƣờng biên giới chung trong điều kiện hòa bình. Về quy mô, mức độ các hoạt động thƣơng mại, trao đổi hàng hóa diễn ra khác nhau giữa các vùng, miền, khu vực biên giới phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: trình độ phát triển kinh tế; điều kiện tự nhiên; các tiềm năng, thế mạnh và chính sách sách hỗ trợ. Ở đây, giao lưu kinh tế qua biên giới bao hàm một nội dung rộng hơn, bao quát hơn trƣớc tức nó là tất cả các hoạt động kinh tế - thƣơng mại, đầu tƣ qua các cửa khẩu biên giới, giữa các quốc gia có đƣờng biên giới chung. Nội dung của giao lƣu kinh tế qua biên giới theo nghĩa rộng không chỉ đơn thuần là buôn bán, trao đổi hàng hóa thông thƣờng, mà còn bao hàm cả các hoạt động về hợp tác khoa học - công nghệ, đầu tƣ sản xuất chế biến sản phẩm, hoạt động xuất nhập khẩu, hợp tác liên doanh phát triển hạ tầng, dịch vụ, du lịch qua biên giới.
Giao lƣu kinh tế tại khu vực các cửa khẩu biên giới là hình thức tiếp cận mới để thực hiện mục tiêu mở rộng hợp tác kinh tế giữa các nƣớc láng giềng. Cho đến nay; lịch sử hợp tác kinh tế đã biết đến nhiều hình thức liên kết kinh tế thông thƣờng. Trong đó, ở trình độ cao, phải kể đến các hình thức nhƣ: khu vực thƣơng mại tự do; liên minh thuế quan; thị trƣờng chung; liên minh kinh tế. Trong khi đó, tại các vùng, các địa phƣơng có trình độ phát triển kinh tế còn thấp, các hoạt động hợp tác kinh tế còn đƣợc thực hiện dƣới nhiều dạng thức khác nhau.
Trong đó phải kể đến là: Các vùng tăng trƣởng: là hình thức hợp tác kinh tế mới giữa các vùng nằm kề nhau về mặt địa lý của các nƣớc làng giềng, cho phép đạt đƣợc mục tiêu tăng trƣởng nhanh hơn về thời gian, thấp hơn về chi phí. Đồng thời, chúng còn có các ƣu điểm khác nhau cho phép khai thác các thế mạnh bổ sung của mỗi nƣớc thành viên, tận dụng hiệu quả kinh tế quy mô lớn. Do đó, thông qua các hình thức, các cấp độ phát triển khác nhau của liên kết kinh tế, căn cứ theo đặc điểm của một loại hình kinh tế gắn liền với cửa 8 khẩu, cho phép áp dụng những chính sách riêng trong một phạm vi không gian và thời gian xác định mà ở đó đã có giao lƣu kinh tế biên giới phát triển. sẽ hình thành KKTCK.
Theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ thì KKTCK đƣợc hiểu là: “Khu kinh tế hình thành ở khu vực biên giới đất liền và địa bàn lân cận khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính và đƣợc thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Nghị định này”. Vì vậy, có thể khái niệm KKTCK là một không gian kinh tế xác định, gắn với cửa khẩu, có dân cƣ hoặc không có dân cƣ sinh sống và đƣợc thực hiện những cơ chế chính sách phát triển riêng, phù hợp với đặc điểm ở đó nhằm đƣa lại hiệu quả KT-XH cao hơn do Chính phủ quyết định thành lập. Hay KKTCK có thể đƣợc hiểu là một vùng lãnh thổ bao gồm một hoặc một số cửa khẩu biên giới đƣợc Chính phủ cho áp dụng một số chính sách ƣu đãi, khuyến khích phát triển KT-XH. Đặc điểm giống và khác nhau giữa khu kinh tế cửa khẩu với các khu kinh tế khác.
Nội hàm của khái niệm về KKTCK đã đề cập ở trên cho ta thấy, nó có một số điểm giống và khác nhau so với một số mô hình kinh tế nhƣ khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế ven biển… Và thông qua sự so sánh này chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về mô hình KKTCK. Trên thế giới có nhiều cách hiểu và tiếp cận khác nhau về khu kinh tế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế ven biển. Đối với Việt Nam các khái niệm trên đƣợc hiểu một cách thống nhất theo cơ chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo các Nghị định số 36/Chính phủ ngày 24/4/1997; Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 và mới nhất theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 thì các khái niệm trên đƣợc hiểu nhƣ sau: 9 - Khu kinh tế là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, đƣợc thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tƣ, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh. Khu kinh tế bao gồm khu kinh tế ven biển và KKTCK: Khu kinh ven biển là khu kinh tế hình thành ở khu vực ven biển và địa bàn lân cận khu vực ven biển, đƣợc thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ (theo Nghị định).
KKTCK là khu kinh tế hình thành ở khu vực biên giới đất liền và địa bàn lân cận khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính và đƣợc thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ (theo Nghị định). - Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự, thủ tục quy định của Chính phủ (theo Nghị định). Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thái: Khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao là ba loại của đặc khu kinh tế, chúng có những đặc điểm khác nhau xuất phát từ sự khác nhau về mục đích, đối tƣợng tham gia hay mối liên kết của chúng đối với nền kinh tế. Qua các khái niệm trên có thể thấy một số điểm giống và khác nhau giữa khu kinh tế cửa khẩu với các loại hình kinh tế trên là: Điểm giống nhau, trƣớc hết về tƣ cách pháp nhân, chúng đƣợc thành lập do quyết định của Chính phủ hoặc Thủ tƣớng Chính phủ và đƣợc hƣởng một số chế độ ƣu đãi của Chính phủ hoặc chính quyền địa phƣơng,có một không gian kinh tế hay một vị trí xác định.
Ngoài ra, các hình thức kinh tế này đều nhằm mục đích nâng cao hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, địa phƣơng, thông qua việc phát huy đặc điểm hoạt động của từng loại hình này đối với vùng, địa phƣơng, hay kinh tế cả nƣớc. 10 Điểm khác nhau cơ bản giữa KKTCK với các hình thức kinh tế này, là ở vị trí và điều kiện hình thành. Để thành lập KKTCK trƣớc hết phải gắn với vị trí cửa khẩu, đây là khu vực có dân hoặc không có dân sinh sống. Hơn nữa, mực đích thành lập KKTCK nhằm ƣu tiên phát triển thƣơng mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ, du lịch và công nghiệp.
Trong đó, qua trọng nhất là hoạt động thƣơng mại, dịch vụ, bao gồm: hoạt động xuất, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, vận chuyển hàng hoá quá cảnh, kho ngoại quan, cửa hàng miễn thuế… Nhƣ vậy, nguồn hàng hóa trao đổi ở đây có thể là tại chỗ, hoặc từ nơi khác đƣa đến, khác với khu công nghiệp và khu chế xuất. Do đó các chính sách ƣu tiên cũng khác nhau, phù hợp với đặc thù của vùng, địa phƣơng nơi các loại hình này đƣợc thành lập.Các loại hình kinh tế cửa khẩu Các KKTCK đều có đặc điểm chung về hành chính là nơi tiếp giáp hai hay nhiều quốc gia; có vị trí địa lý riêng trên đất liền, biển và thềm lục địa, sông hồ,… nằm trong tài liệu phân chia biên giới theo Hiệp định và đƣợc Nhà nƣớc cho áp đặt một số chính sách riêng. Một số mô hình kinh tế cửa khẩu điển hình nhƣ: Mô hình không gian Nguyên tắc chung của mô hình không gian nhƣ sau: - Tôn trọng chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, thủy, thềm lục địa, vùng trời, theo hiệp định đã ký và các quy ƣớc quốc tế. - Các hoạt động ở khu vực phải xét đến yếu tố địa lý, tự nhiên để không làm tổn hại đến lợi ích các bên về các mặt, chú ý đến lĩnh vực môi trƣờng.
- Bảo đảm sự phối hợp tốt nhất các yếu tố tự nhiên để các bên cùng có lợi.