CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu CNHT đang dần trở nên quan trọng trong ngành công nghiệp nói riêng và hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung. Đây là một trong những ngành tạo cơ sở cho sự phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, thu hút vốn đầu tư nước ngoài,”nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”trong các khu vực và trên trường quốc tế.”Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, mỗi công trình tiếp cận theo những giác độ nhất định, là những cơ sở, tiền đề quan trọng để tác giả kế thừa, phát triển nhằm hoàn thành những mục tiêu nghiên cứu của luận án.” * Các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phương pháp định tính Một số nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp chuyên gia nhằm đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế trong phát triển CNHT của các quốc gia đi trước từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, giải pháp cho các quốc gia đi sau phát triển CNHT. Điển hình trong số đó là: (Asian productivity organization APO, 2002) tập trung vào một số giải pháp chính như:”Thu hút FDI vào phát triển CNHT, quy định tỷ lệ nội địa hóa hoặc nâng cao hiệu quả chi phí từ phía chính phủ dành cho liên kết doanh nghiệp được coi là điều kiện tiên quyết phát triển CNHT;”(JBIC,2004); (cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản,1995): chỉ ra các giải pháp của các chi nhánh”tập đoàn Nhật Bản ở Châu Á đặc biệt là Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sử dụng hệ thống thầu phụ được hình thành từ vai trò trợ giúp mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện có vốn đầu tư tại Nhật Bản;”nghiên cứu của (Abell Peter,1990); (Anderdon,1999) đưa ra một số kinh nghiệm phát triển cho CNHT đối ở các nước đang phát triển; (Kenichi Ohno & Nguyễn Văn Thường, 2011) đã phân tích, đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế trong phát triển CNHT của hai quốc gia Malaysia và Thái Lan, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho các quốc gia đi sau; (Nguyễn Kế Tuấn, 2004)”đã đề cập tổng quát: Khái niệm, vai trò, các nhân tố tác động đến phát triển CNHT, đề xuất một số chính sách chủ yếu và phát triển CNHT, đặc biệt là quan điểm để lựa chọn xây dựng chính sách phát triển cho Việt Nam;”(Kenichi Ohno, 2007); (Kenichi Ohno và Nguyễn Văn Thường, 2005) cho rằng, năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp được quyết định 05 yếu tố (dung lượng thị trường, nguồn nhân lực công nghiệp, môi trường chính sách, chính sách thuế, khoảng cách thông tin và nhận thức), được thể hiện ở mô hình sau: 8 Hình 1.1: Tăng tích tụ và tính cạnh tranh trong công nghiệp sản xuất linh kiện Nguồn: Kenichi Ohno, 2007 Nghiên cứu cho rằng quy mô thị trường, nguồn nhân lực công nghiệp chất lượng cao, chính sách thuế và thuế quan hấp dẫn, môi trường chính sách ổn định, và thu hẹp khoảng cách về nhận thức và thông tin giữa các nhà sản xuất nước ngoài và nhà cung cấp Việt Nam là những nhân tố quyết định đến sự phát triển CNHT.
Ngoài 05 yếu tố cốt lõi trên, còn có hai nhân tố khác cũng có sự tác động là các tiêu chuẩn công nghiệp và tiêu chuẩn an toàn. Nghiên cứu khẳng định đây là những vấn đề quan trọng giúp CNHT đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế và đảm bảo hoạt động hiệu quả. Ngoài ra, một số nghiên cứu, báo cáo trên thế giới có liên quan đến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) của CNHT khác như: (Lipovatz Daphne & cộng sự,2000) nghiên cứu về chính sách và cơ chế thúc đẩy công nghiệp ở Thái Lan II – Chính sách CNHT với trọng tâm là công nghiệp linh phụ kiện nhựa hạ nguồn và công nghiệp khuôn mẫu; (Rantana E,1999) nghiên cứu vai trò CNHT vừa và nhỏ ở Nhật Bản và Thái Lan; (Rendon R,2000) với nghiên cứu tổng quan về thầu phụ công nghiệp và trao đổi đối tác; (Subrahmanya&M. Bala,2006) với nghiên cứu về doanh nghiệp chế tạo vừa và nhỏ ở Nhật Bản: Thầu phụ, cơ cấu và hoạt động.S, 2006) nghiên cứu Hàn Quốc, thúc đẩy công nghiệp linh phụ kiện và nguyên liệu; … Các nghiên cứu khẳng định lợi thế cạnh tranh của quốc gia là chuỗi giá trị và cụm công nghiệp: (Michael Porter,1990); (Jones R.H,2005); (Briger,1984); (Dunning John,1977); (Eiamkanitchat,1999); (Elaine Mosakowski & cộng sự,1997); (Ernst Dieter,2000) cho rằng,”sự tồn tại của các ngành CNHT quyết định khả năng canh tranh quốc gia và tạo ra những lợi thế cho các ngành công nghiệp 9 sử dụng đầu ra theo các cách khác nhau.”Cần tiếp cận được các yếu tố đầu vào sinh lời hiệu quả nhanh và sớm, có sự ưu đãi; tạo ra lợi thế phối hợp liên tục: liên kết giữa các công ty trong chuỗi giá trị và các nhà cung cấp của họ.
Đây là mối quan hệ công việc tương tác, gần gũi giữa các nhà cung cấp hàng phụ trợ và nhà sản xuất (tức là nhà cung cấp CNHT giúp nhà lắp ráp nắm được phương pháp, cơ hội áp dụng công nghệ mới, ý tưởng, kiến thức mới và những sáng chế tạo ra sản phẩm đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu thị trường sớm nhất)…. Bên cạnh đó, còn một số nghiên cứu trong nước đưa ra những cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng, đề ra một số giải pháp, cải thiện cơ chế chính sách nhằm phát triển CNHT của (Đại học Ngoại thương,2010); (Phan Đăng Tuất, 2007,2008); (Lê Thế Giới,2014), (Hoàng Văn Châu, 2010)… Trên cơ sở giới thiệu những khái niệm, bản chất, đặc điểm, hệ thống lý luận và hệ thống chính sách về CNHT, các tác giả đề xuất giải pháp về chính sách kinh tế vĩ mô và thị trường nhằm thúc đẩy phát triển CNHT ở Việt Nam hiện nay. Hạn chế của các nghiên cứu định tính là khái niệm CNHT chưa được rõ ràng. Một thực tế rằng có sự giao thoa giữa ngành CNHT và ngành công nghiệp lắp rắp, đây là vấn đề khó khăn để có thể xác định cụ thể hai nhóm ngành này, bởi chúng có mối liên hệ qua lại.
Do đó, cần xây dựng cơ sở phân ngành CNHT bao gồm những nguyên tắc nhất định nhằm xác định cụ thể ngành này. Đồng thời, để đánh giá thực trạng cũng cần một hệ thống chỉ tiêu đảm bảo thống nhất phương pháp tính, phạm vi, nguồn số liệu và các phân tổ chủ yếu. Đây là những chỉ tiêu phản ánh quy mô, năng lực cạnh tranh của ngành CNHT, giúp nhà quản lý hoạch định chính sách sát với thực tế. *Các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phương pháp định lượng Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả đánh giá thực trạng và đưa ra một số cơ sở lý luận về các nhân tố tác động đến phát triển CNHT của các tác giả: (GS.Nguyễn Kế Tuấn,2014); (Trần Đình Thiên,2012); (Nguyễn Thị Huế,2013); (Hà Thị Lan Hương,2014); (Nguyễn Thị Dung Huệ,2013); (Đỗ Minh Thụy,2013); (Trương Thị Chí Bình, 2010).
đã đưa ra một số lý do mà CNHT chưa phát triển như: “khái niệm CNHT quá rộng, chính phủ chưa quan tâm, chưa thu hút được đầu tư nước ngoài, bỏ qua quy định tỷ lệ nội địa hóa và năng lực của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém”. Từ đó tác giả đưa ra hệ thống giải pháp cho sự phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam. Hạn chế của nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu dựa trên phương pháp chuyên gia, số liệu chưa đủ sức thuyết phục, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển CNHT chưa rõ ràng, chưa đưa ra bằng chứng thực nghiệm để chứng minh sự tác động mạnh, yếu của các nhân tố. 10 Nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố: (Lưu Tiến Dũng & cộng sự,2014) đưa ra các nhân tố như: nguồn nhân lực chất lượng cao; khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp hỗ trợ; chính sách ưu đãi về thuế và thuế; sự ổn định của môi trường chính sách; quy mô cầu; và sự bất cân xứng về thông tin cung cầu; ba yếu tố tác động gián tiếp bao gồm chất lượng, chi phí và khả năng cung cấp.
Bằng phương pháp thảo luận, lấy ý kiến chuyên gia, nhóm tác giả đưa ra bộ thang đo trong mô hình nghiên cứu gồm 35 biến quan sát được đo bằng thang đo Likert. Kết quả nghiên cứu cho thấy, so với kỳ vọng ban đầu các mối quan hệ đều được chấp nhận. Nhân tố nguồn nhân lực công nghiệp chất lượng cao là tác động mạnh nhất, tiếp đến là khả năng cạnh tranh, tác động yếu nhất là sự bất cân xứng về thông tin cung cầu, từ đó tác giả đưa ra hệ thống giải pháp phù hợp cho sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ trong ngành cơ khi. (Nhâm Phong Tuân & Nguyễn Thị Tuyết,2012) đưa ra hai nhân tố: Nguồn lực của doanh nghiệp và khả năng tổ chức công nghiệp ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh và ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất công nghiệp hỗ trợ.
Nhóm tác giả dựa trên cơ sở lý thuyết của Barney, Newbert, M.Porter; bằng phương pháp điều tra, khảo sát, tác giả thu thập dữ liệu của 250 doanh nghiệp trong đó có 102 phiếu trả lời của các doanh nghiệp là hợp lệ, với hệ thống thang đo Likert cho các biến nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Khả năng tổ chức của doanh nghiệp có tác động đến lợi thế cạnh tranh của mình và ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên nguồn lực của doanh nghiệp có tác động mạnh hơn so với khả năng tổ chức. Điểm mới của nghiên cứu là đưa ra bằng chứng thực nghiệm về sự khác nhau giữa khái niệm lợi thế cạnh tranh và hiệu quả sản xuất công nghiệp; khẳng định nguồn lực của doanh nghiệp.
(Phạm Văn Hùng, 2014) đã sử dụng dữ liệu thứ cấp dựa trên tham khảo các tài liệu sách, báo, trang web, Tổng Cục Thống Kê, Bộ Xây Dựng và các công trình nghiên cứu có liên quan; dữ liệu sơ cấp dựa trên điều tra khảo sát lấy ý kiến đánh giá của các cán bộ lãnh đạo tại 350 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, tư vấn thiết kế trong 3 miên Bắc, Trung, Nam, số phiếu thu về hợp lệ 300 phiếu. Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu: Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp hồi quy. Kết quả nghiên cứu cho thấy: mức độ tác động của các yếu tố lao động, vốn đầu tư trong xây dựng có xu hướng giảm dần.