Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Thống kê với đề tài "Nghiên cứu thống kê tác động các nhân tố đến sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ - trường hợp tỉnh Bắc Ninh", do nghiên cứu sinh Trần Hồng Nhạn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Kiểm tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (năm 2019). Luận án giải quyết các vấn đề lý luận và thực nghiệm thống kê đối với ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) trong bối cảnh tái cơ cấu kinh tế tại Việt Nam.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự suy giảm tốc độ tăng trưởng công nghiệp và gia tăng tồn kho sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008–2009. Giai đoạn này, lạm phát tại Việt Nam tăng từ mức bình quân 8% lên 20% vào năm 2008. Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào yếu tố vốn thay vì nâng cao năng suất: đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP giảm từ 44% trong thập niên 1990 xuống còn 24% trong nửa đầu thập niên 2000, trong khi đóng góp của vốn tăng từ 34% lên 53%. Theo số liệu của Viện Chiến lược công nghiệp (Bộ Công Thương), trong khoảng 600 doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực chế tạo chỉ có 200 doanh nghiệp đủ trình độ tham gia sản xuất cho đối tác nước ngoài, tập trung chủ yếu ở ngành xe máy và điện tử. Nhiều ngành hàng xuất khẩu đạt kim ngạch hàng chục tỷ USD mỗi năm nhưng phải nhập khẩu từ 80% đến 85% nguyên liệu, dẫn tới giá trị gia tăng nội địa thấp. Ngành chế tạo, lắp ráp ô tô và xe máy có khoảng 200 doanh nghiệp cung ứng linh phụ kiện, song sản phẩm chủ yếu ở mức đơn giản; các cụm chi tiết quan trọng như động cơ, hộp số, cụm chuyển động phải nhập khẩu 100%. Đối chiếu với tiến trình 5 giai đoạn phát triển CNHT tại các nước đang phát triển (thay thế nhập khẩu; tăng số lượng nhưng chất lượng thấp; sản phẩm gia tăng và giảm nhập khẩu; cạnh tranh nội địa; xuất khẩu), ngành CNHT Việt Nam mới nằm ở giai đoạn 2.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: trên thực tế có nhiều nghiên cứu tiếp cận CNHT dưới góc độ chính sách hoặc mô tả kinh tế chung, nhưng thiếu vắng các công trình nghiên cứu toàn diện dưới giác độ thống kê. Cơ quan thống kê quốc gia (Tổng cục Thống kê) chưa ban hành khái niệm chính thức, chưa xây dựng cơ sở phân loại sản phẩm CNHT dựa trên hệ thống ngành kinh tế quốc dân, và chưa thiết lập hệ thống chỉ tiêu thống kê định kỳ để đo lường quy mô, cơ cấu cũng như năng lực cạnh tranh của ngành. Do dữ liệu CNHT cấp quốc gia chưa được công bố đầy đủ, việc đánh giá định lượng gặp nhiều trở ngại. Luận án lựa chọn tỉnh Bắc Ninh làm địa bàn nghiên cứu điển hình vì đây là địa phương có tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao và thu hút lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn của cả nước.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 2 nội dung đánh số theo văn bản:

  1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về CNHT, phân loại nhóm ngành CNHT, xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự phát triển và xác định các nhân tố tác động đến sự phát triển CNHT.
  2. Đánh giá tác động các nhân tố đến sự phát triển CNHT và đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình CNHT hiện nay của Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu là ngành CNHT và sự tác động của các nhân tố tới sự phát triển CNHT. Đối tượng thu thập thông tin khảo sát sơ cấp là người chủ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNHT. Phạm vi không gian nghiên cứu giới hạn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp phục vụ đánh giá thực trạng kéo dài từ năm 2010 đến năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm phương pháp: định tính và định lượng.

Đối với nhóm nghiên cứu định tính, các bài học kinh nghiệm quốc tế và chính sách phát triển CNHT được điểm lại qua các nghiên cứu của APO (2002) về việc thu hút FDI và điều kiện tiên quyết về tỷ lệ nội địa hóa; JBIC (2004) và JICA (1995) về hệ thống thầu phụ của các chi nhánh tập đoàn Nhật Bản tại Thái Lan, Malaysia, Indonesia; Abell Peter (1990) và Anderdon (1999) về kinh nghiệm phát triển CNHT ở các nước đang phát triển; Kenichi Ohno và Nguyễn Văn Thường (2005, 2011) so sánh bài học phát triển giữa Malaysia và Thái Lan. Nguyễn Kế Tuấn (2004) đề cập tổng quát khái niệm, vai trò và quan điểm xây dựng chính sách phát triển CNHT tại Việt Nam. Kenichi Ohno (2007) xác định năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất linh kiện được quyết định bởi 5 nhân tố cốt lõi: dung lượng thị trường, nguồn nhân lực công nghiệp, môi trường chính sách, chính sách thuế, khoảng cách thông tin và nhận thức, cùng hai nhân tố bổ trợ là tiêu chuẩn công nghiệp và tiêu chuẩn an toàn. Về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong CNHT, các công trình của Lipovatz Daphne và cộng sự (2000), Ratana E. (1999), Rendon R. (2000), Subrahmanya và M. Bala (2006) phân tích cơ cấu và hoạt động thầu phụ tại Nhật Bản và Thái Lan. Các nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh quốc gia, chuỗi giá trị và cụm công nghiệp gồm Michael Porter (1990, 1991), Jones R.H. (2005), Briger Wernerfelt (1984), Dunning John (1977), Eiamkanitchat (1999), Elaine Mosakowski và cộng sự (1997), Ernst Dieter (2000), Cusumano và Takeishi (1991), Toshihiro Nishiguchi (1994), Fujimoto và cộng sự (2001). Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Trường Đại học Ngoại thương (2010), Phan Đăng Tuất (2007, 2008), Lê Thế Giới (2014), Hoàng Văn Châu (2010), Đỗ Mạnh Hồng (2008) đã cung cấp các cơ sở lý luận và đề xuất chính sách kinh tế vĩ mô. Tác giả nhận xét hạn chế của các nghiên cứu định tính là khái niệm CNHT chưa nhất quán, ranh giới giữa CNHT và công nghiệp lắp ráp còn giao thoa, thiếu hệ thống chỉ tiêu thống nhất về phương pháp tính và nguồn số liệu.

Đối với nhóm nghiên cứu định lượng, tác giả phân chia thành hai hướng:

  • Hướng sử dụng thống kê mô tả: Nguyễn Kế Tuấn (2014), Trần Đình Thiên (2012), Nguyễn Thị Huế (2013), Hà Thị Lan Hương (2014), Nguyễn Thị Dung Huệ (2013), Đỗ Minh Thụy (2013), Trương Thị Chí Bình (2010). Các nghiên cứu này chỉ ra nguyên nhân CNHT chậm phát triển như năng lực doanh nghiệp trong nước yếu, thiếu vắng cơ chế ràng buộc tỷ lệ nội địa hóa. Hạn chế là số liệu dừng ở mức mô tả, chưa đưa ra bằng chứng thực nghiệm lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố.
  • Hướng sử dụng mô hình kinh tế lượng và phân tích nhân tố: Lưu Tiến Dũng và cộng sự (2014) khảo sát ngành cơ khí với bộ thang đo 35 biến quan sát Likert, kết luận nguồn nhân lực chất lượng cao có tác động mạnh nhất, sự bất cân xứng thông tin có tác động thấp nhất; Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Thị Tuyết (2012) khảo sát 250 doanh nghiệp (thu được 102 phiếu hợp lệ) dựa trên khung lý thuyết của Barney, Newbert và Porter, chỉ ra nguồn lực doanh nghiệp tác động mạnh hơn khả năng tổ chức tới lợi thế cạnh tranh; Phạm Văn Hùng (2014) khảo sát 350 doanh nghiệp vật liệu xây dựng (thu được 300 phiếu hợp lệ), sử dụng hồi quy để xác định vốn đầu tư và khoa học công nghệ có ảnh hưởng lớn đến tính bền vững của CNHT xây dựng dân dụng.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết là: xây dựng cơ sở phân loại sản phẩm CNHT theo phân ngành kinh tế quốc dân; thiết lập hệ thống chỉ tiêu thống kê hoàn chỉnh; thu thập dữ liệu thực tế tại Bắc Ninh để kiểm định thực nghiệm mô hình tác động của các nhân tố bằng các công cụ thống kê chuyên sâu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án vận dụng quan điểm phát triển kinh tế của C.Mác (phát triển theo chiều rộng thông qua mở rộng quy mô vốn, lao động; phát triển theo chiều sâu thông qua tăng năng suất lao động và hiệu quả sử dụng đầu vào); lý thuyết lợi thế cạnh tranh và mô hình Khối kim cương của Michael Porter; lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp của Barney; các mô hình phát triển CNHT trên thế giới (mô hình tự phát tại Anh, Pháp, Đức, Mỹ; mô hình chiến lược kéo tại Nhật Bản; mô hình chiến lược đẩy tại Hàn Quốc; mô hình tổng hợp).

Về khái niệm và phạm vi, luận án phân tích 3 cách tiếp cận:

  • Phạm vi hẹp (phạm vi chính): tập trung vào linh kiện, phụ tùng gia công cho lắp ráp cuối cùng (áp dụng tại Thái Lan, Malaysia).
  • Phạm vi rộng 1: bao gồm thêm các dịch vụ sản xuất như logistics, kho bãi, phân phối, bảo hiểm (Bộ Năng lượng Hoa Kỳ - DOE, 2005; Quyết định số 9028/QĐ-BCT).
  • Phạm vi rộng 2: bao hàm cả chế tạo vật liệu cơ bản như sắt thép, hóa chất thô (Nhật Bản).

Dựa trên bối cảnh Việt Nam, luận án định nghĩa: "Công nghiệp hỗ trợ là một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp các đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và công cụ để sản xuất ra các linh kiện phụ tùng này) cho công nghiệp lắp ráp và công nghiệp chế biến."

Về phân loại nhóm ngành, luận án dựa vào Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam kết hợp Nghị định số 111/2015/NĐ-CP, áp dụng nguyên tắc sắp xếp theo 3 căn cứ ưu tiên: (1) Căn cứ vào công dụng sản phẩm hỗ trợ; (2) Căn cứ vào nguyên, vật liệu chính; (3) Căn cứ vào quy trình công nghệ sản xuất. Trên cơ sở đó, luận án xác định 6 nhóm ngành CNHT:

  1. Lĩnh vực CNHT ngành dệt may;
  2. Lĩnh vực CNHT ngành da giày;
  3. Lĩnh vực CNHT ngành điện tử - tin học;
  4. Lĩnh vực CNHT ngành sản xuất ô tô, xe máy;
  5. Lĩnh vực CNHT ngành cơ khí chế tạo;
  6. Lĩnh vực CNHT công nghệ cao.

Quy trình nghiên cứu của luận án gồm 6 bước:

  • Bước 1: Tổng quan lý luận và đề xuất mô hình nghiên cứu sơ bộ gồm 5 nhân tố: Dung lượng thị trường, Nguồn nhân lực chất lượng cao, Môi trường chính sách, Chính sách thuế, Thông tin và nhận thức.
  • Bước 2: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê và phân tích thực trạng CNHT Bắc Ninh giai đoạn 2010–2016.
  • Bước 3: Nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn chuyên gia, phân tích tần suất xuất hiện từ khóa để hiệu chỉnh thang đo nháp, bổ sung nhân tố Trách nhiệm bảo vệ môi trường.
  • Bước 4: Nghiên cứu định lượng sơ bộ để kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, hình thành thang đo chính thức.
  • Bước 5: Nghiên cứu định lượng chính thức bằng bảng hỏi điều tra mẫu doanh nghiệp tại Bắc Ninh, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích khẳng định (CFA) và kiểm định thang đo.
  • Bước 6: Kiểm định mô hình hồi quy, phân tích hàm phân biệt bội số để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm ngành, thảo luận kết quả và đề xuất giải pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu gồm:

  • Dữ liệu thứ cấp: Điều tra doanh nghiệp hàng năm (2010–2016) của Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, Niên giám thống kê Bắc Ninh, số liệu thống kê Hải quan Bắc Ninh, báo cáo tài chính doanh nghiệp.
  • Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát điều tra bằng bảng câu hỏi đối với các chủ doanh nghiệp CNHT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2016.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về sự phát triển công nghiệp hỗ trợ

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về CNHT. Tác giả phân tích các đặc điểm cấu trúc của ngành: tính đa cấp (phân tầng nhà cung cấp cấp 1, cấp 2, cấp 3 trong chuỗi giá trị); tính hệ thống liên kết theo quy trình sản xuất, khu vực và phụ thuộc vào ngành công nghiệp chính; sự đa dạng về trình độ công nghệ. Chương này làm rõ 4 mô hình phát triển CNHT trên thế giới (tự phát, kéo, đẩy, tổng hợp) và khẳng định vai trò của CNHT trong việc thu hút FDI, chuyển giao công nghệ, hạn chế bẫy thu nhập trung bình và thúc đẩy phát triển mạng lưới DNNVV.

Tác giả tổng hợp các nhân tố tác động đến sự phát triển CNHT từ các công trình trước: thị trường khu vực hạ nguồn, tiến bộ khoa học kỹ thuật, nguồn lực tài chính, mức độ bảo hộ thực tế, quan hệ liên kết toàn cầu, chính sách nhà nước, nguồn nhân lực chất lượng cao, chính sách thuế ưu đãi, dung lượng thị trường, thu hẹp khoảng cách thông tin và nhận thức. Từ đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu sơ bộ gồm 5 nhân tố tác động trực tiếp đến sự phát triển CNHT: Dung lượng thị trường, Chính sách thuế, Nguồn nhân lực chất lượng cao, Thông tin và nhận thức, Môi trường chính sách.

Chương 2: Hệ thống chỉ tiêu thống kê sự phát triển công nghiệp hỗ trợ và thực trạng công nghiệp hỗ trợ Bắc Ninh

Chương 2 thiết lập nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê: xuất phát từ mục đích nghiên cứu, đảm bảo tính toàn diện và tính khả thi. Từng chỉ tiêu phải đáp ứng 4 yêu cầu: tính hiệu quả, tính so sánh, tính khả thi và tính hội nhập quốc tế. Hệ thống chỉ tiêu bao gồm 2 nhóm chính: nhóm phản ánh sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp và nhóm phản ánh sự cải thiện năng lực cạnh tranh. Mỗi chỉ tiêu được định nghĩa đầy đủ về khái niệm, công thức tính, phân tổ chủ yếu và nguồn số liệu:

  • Tốc độ tăng (giảm) số lượng doanh nghiệp: tính theo tốc độ liên hoàn $a_Y = \frac{Y_j - Y_{j-1}}{Y_{j-1}} \times 100$ và định gốc $A_Y = \frac{Y_j - Y_1}{Y_1} \times 100$ (kỳ gốc 2010).
  • Quy mô lao động bình quân: $\bar{L} = \frac{L_{dk} + L_{ck}}{2}$.
  • Giá trị sản xuất (GO): xác định từ doanh thu thuần, biến động chi phí dở dang, thành phẩm và hàng gửi bán; chuyển đổi về giá so sánh 2010 qua chỉ số giá tiêu dùng.

Bảng 2.1 dưới đây thể hiện biến động chỉ số giá tiêu dùng tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010–2016:

Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Chỉ số giá tiêu dùng theo giá so sánh 2010 (%) 100,00 107,35 100,45 96,94 95,06 94,05 96,48
  • Giá trị tăng thêm (VA): tính theo phương pháp phân phối $VA = V + M_1 + M_2 + C_1$ (với $V$ là thu nhập lao động, $M_1$ là thu nhập của doanh nghiệp, $M_2$ là nghĩa vụ thuế và lệ phí nộp ngân sách, $C_1$ là khấu hao tài sản cố định).
  • Giá trị xuất khẩu: tính theo giá FOB bằng đồng USD.
  • Thu nhập bình quân của một lao động: $H_{TV} = \frac{V}{\bar{L}}$.
  • Năng suất lao động: $W_T = \frac{VA}{\bar{L}}$ (triệu đồng/người).
  • Tỷ trọng giá trị tăng thêm trong giá trị sản xuất: $\frac{VA}{GO} \times 100%$.

Phần thực trạng sử dụng số liệu thống kê giai đoạn 2010–2016 của Cục Thống kê Bắc Ninh, trình bày qua các bảng: số lượng doanh nghiệp phân theo nhóm ngành và loại hình (Bảng 2.2), cơ cấu số lượng doanh nghiệp (Bảng 2.3), giá trị tăng thêm theo giá so sánh (Bảng 2.4), tốc độ tăng liên hoàn của VA và GO (Bảng 2.5), hiệu suất sử dụng vốn (Bảng 2.6), năng suất lao động (Bảng 2.7) và thu nhập bình quân (Bảng 2.8).

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu tác động của các nhân tố đến sự phát triển công nghiệp hỗ trợ

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình thực nghiệm. Nghiên cứu định tính được triển khai để kiểm tra tính phù hợp của các nhân tố thông qua phân tích tần suất xuất hiện các ý tưởng và từ khóa (Bảng 3.1 đến Bảng 3.7): sự phát triển CNHT (PTCNHT), nguồn nhân lực chất lượng cao (gồm kỹ năng lao động KNLD và thái độ lao động TDLD), môi trường chính sách (MTCS), chính sách thuế (CST), dung lượng thị trường (DLTT), thông tin cần thiết (TT), và nhân tố mới được phát hiện là trách nhiệm bảo vệ môi trường (TNBVMT).

Nghiên cứu định lượng sử dụng mẫu điều tra doanh nghiệp CNHT tại Bắc Ninh tính đến 31/12/2016. Tác giả mô tả cơ cấu mẫu so với tổng thể chung năm 2016 (Bảng 3.8), thị trường tiêu thụ sản phẩm (Bảng 3.9), tỷ trọng nguồn nguyên liệu đầu vào (Bảng 3.10) và trình độ lao động (Bảng 3.11).

Quy trình kiểm định mô hình gồm:

  • Kiểm tra độ tin cậy thang đo bằng Cronbach's Alpha (Bảng 3.12).
  • Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho từng biến và đồng thời các biến (Bảng 3.13 đến Bảng 3.21), phân tích kết quả rút trích nhân tố (Bảng 3.22).
  • Phân tích khẳng định CFA xác định mô hình đo lường (Hình 3.3).
  • Ước lượng hồi quy giữa các biến quan sát trong từng biến tiềm ẩn (Bảng 3.23) và kết quả hồi quy mô hình (Bảng 3.24).
  • Đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI của Bắc Ninh giai đoạn 2007–2017 (Bảng 3.25).
  • Sử dụng mô hình hàm phân biệt bội số để phân tích sự khác biệt về tác động của các nhân tố giữa các nhóm ngành CNHT khác nhau (Bảng 3.26 đến Bảng 3.29).

Chương 4: Kiến nghị

Chương 4 đưa ra các kiến nghị dựa trên kết quả ước lượng thực nghiệm:

  • Đối với cơ quan quản lý: ban hành chính sách ưu đãi bám sát đặc thù từng nhóm ngành; nâng cao chất lượng đào tạo nghề kỹ thuật; thiết lập cơ chế kiểm soát và ưu đãi đầu tư công nghệ bảo vệ môi trường.
  • Đối với doanh nghiệp CNHT: đầu tư máy móc thiết bị giảm thiểu ô nhiễm; nâng cao trình độ quản lý sản xuất; tăng cường hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng.
  • Đối với công tác thống kê: Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê địa phương cần công bố báo cáo định kỳ hàng năm về CNHT; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa trên trang web cung cấp thông tin minh bạch theo danh mục các chỉ tiêu cụ thể (Bảng 4.1) giúp doanh nghiệp lắp ráp dễ dàng tra cứu năng lực của nhà cung ứng phụ trợ.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận và phương pháp luận:

  • Luận án xác định rõ khái niệm ngành CNHT, sản phẩm CNHT và doanh nghiệp CNHT trên giác độ thống kê; lựa chọn phạm vi hẹp phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam.
  • Thiết lập 3 căn cứ ưu tiên để phân loại sản phẩm CNHT (công dụng sản phẩm; nguyên vật liệu chính; quy trình công nghệ) kết nối với Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam để chia thành 6 nhóm ngành cụ thể.
  • Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường sự phát triển CNHT gồm 2 nhóm: nhóm chỉ tiêu quy mô phát triển (số lượng doanh nghiệp, quy mô lao động, giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm, giá trị xuất khẩu) và nhóm chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh (thu nhập bình quân, năng suất lao động, tỷ trọng giá trị gia tăng trong giá trị sản xuất).

Về mặt thực tiễn:

  • Đánh giá toàn diện thực trạng phát triển CNHT tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010–2016 bằng chuỗi dữ liệu thứ cấp được quy đổi theo giá so sánh 2010 qua chỉ số giá tiêu dùng.
  • Xác định mô hình thực nghiệm gồm 6 nhân tố tác động đến sự phát triển CNHT: Dung lượng thị trường (DLTT), Kỹ năng người lao động (KNLD), Môi trường chính sách (MTCS), Thông tin cần thiết (TT), Chính sách thuế (CST), Trách nhiệm bảo vệ môi trường (TNBVMT). Luận án chứng minh trách nhiệm bảo vệ môi trường là nhân tố mới có tác động thúc đẩy phát triển bền vững.
  • Ứng dụng mô hình hàm phân biệt bội số chứng minh mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tạo ra sự phân hóa khác biệt giữa các nhóm ngành CNHT khác nhau trên địa bàn.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp chính sách và thiết kế khung thông tin cơ sở dữ liệu trên trang web thống kê phục vụ kết nối cung - cầu công nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án bị giới hạn phạm vi nghiên cứu điển hình tại tỉnh Bắc Ninh, do Tổng cục Thống kê chưa công bố hệ thống số liệu CNHT trên quy mô cả nước nên tác giả không thể tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu thứ cấp toàn diện ở phạm vi quốc gia với độ tin cậy đảm bảo. Mặt khác, đối tượng khảo sát thu thập thông tin sơ cấp mới chỉ tập trung vào góc nhìn của người chủ/nhà quản lý các doanh nghiệp sản xuất phụ trợ, chưa khảo sát mở rộng đối với các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp hạ nguồn.

Về hướng nghiên cứu tiếp, khi cơ quan thống kê chính thức ban hành phân loại và dữ liệu thống kê chuyên ngành CNHT, mô hình và hệ thống chỉ tiêu cần được kiểm chứng trên phạm vi cả nước. Đồng thời, nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát cả hai phía cung và cầu trong chuỗi cung ứng công nghiệp để đo lường toàn diện mức độ bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp hỗ trợ trong nước và doanh nghiệp lắp ráp FDI.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng sau:

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê cấp tỉnh, Sở Công Thương): có thể tham khảo cơ sở phân ngành, hệ thống chỉ tiêu thống kê tại Chương 2 và khung cơ sở dữ liệu trên website (Bảng 4.1 tại Chương 4) để chuẩn hóa công tác thu thập số liệu và hoạch định chính sách hỗ trợ doanh nghiệp.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Thống kê kinh tế: tham khảo khung phương pháp kết hợp định tính - định lượng 6 bước, kỹ thuật chuyển đổi giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm theo giá so sánh bằng chỉ số giá tiêu dùng, cũng như phương pháp sử dụng hàm phân biệt bội số để phân tích sự khác biệt giữa các nhóm ngành.
  • Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và hiệp hội ngành nghề: tham khảo các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh, nhận thức về vai trò của đầu tư công nghệ bảo vệ môi trường và cải thiện kỹ năng lao động để đáp ứng tiêu chuẩn của các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang ở giai đoạn nào trong tiến trình phát triển?
Đối chiếu với 5 giai đoạn phát triển CNHT ở các nước đang phát triển, luận án xác định CNHT Việt Nam đang ở giai đoạn 2: số lượng sản phẩm phụ trợ đã tăng lên nhưng chất lượng chưa cao, chưa có khả năng cạnh tranh tốt, tỷ lệ phụ tùng sản xuất nội địa cung cấp cho công nghiệp chính còn thấp, các ngành kinh tế xuất khẩu lớn vẫn phải nhập khẩu từ 80% đến 85% nguyên liệu.

2. Luận án phân chia công nghiệp hỗ trợ thành mấy nhóm ngành và dựa trên những căn cứ nào?
Luận án phân chia CNHT thành 6 nhóm ngành: dệt may; da giày; điện tử - tin học; ô tô, xe máy; cơ khí chế tạo; công nghệ cao. Việc phân loại dựa trên 3 căn cứ ưu tiên theo thứ tự: thứ nhất là công dụng của sản phẩm hỗ trợ; thứ hai là nguyên, vật liệu chính tạo ra sản phẩm; thứ ba là quy trình công nghệ sản xuất.

3. Giá trị tăng thêm (VA) của ngành công nghiệp hỗ trợ được luận án tính toán theo công thức nào?
Luận án sử dụng phương pháp phân phối:
$$VA = V + M_1 + M_2 + C_1$$
Trong đó: $V$ là thu nhập lần đầu của người lao động (lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, thu nhập khác); $M_1$ là thu nhập lần đầu của doanh nghiệp; $M_2$ là thu nhập của nhà nước từ doanh nghiệp (thuế và các khoản phí, lệ phí nộp ngân sách); $C_1$ là khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp. Để so sánh qua chuỗi thời gian, chỉ tiêu được quy đổi theo giá so sánh 2010 thông qua chỉ số giá tiêu dùng.

4. Mô hình nghiên cứu chính thức của luận án xác định những nhân tố nào tác động đến sự phát triển công nghiệp hỗ trợ?
Mô hình nghiên cứu chính thức xác định hệ thống gồm 6 nhân tố tác động: Dung lượng thị trường (DLTT), Kỹ năng của người lao động (thuộc nguồn nhân lực chất lượng cao), Môi trường chính sách (MTCS), Thông tin cần thiết (TT), Chính sách thuế (CST), và Trách nhiệm bảo vệ môi trường (TNBVMT).

5. Vì sao tác giả chọn tỉnh Bắc Ninh làm địa bàn nghiên cứu điển hình?
Tác giả lựa chọn Bắc Ninh vì đây là địa phương có tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao và thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) rất lớn trong những năm gần đây. Nghiên cứu trường hợp điển hình này giúp rút ra các bài học thực tiễn trong bối cảnh dữ liệu thống kê CNHT cấp quốc gia chưa được Tổng cục Thống kê ban hành đầy đủ.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Hồng Nhạn đã giải quyết khoảng trống học thuật về mặt thống kê đối với ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam thông qua việc chuẩn hóa khái niệm, nguyên tắc phân loại 6 nhóm ngành và thiết lập hệ thống chỉ tiêu thống kê hoàn chỉnh. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng 6 bước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010–2016, tác giả đã lượng hóa tác động của 6 nhân tố cốt lõi đến sự phát triển của ngành, trong đó chỉ ra vai trò của trách nhiệm bảo vệ môi trường. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực nghiệm phục vụ việc hoạch định chính sách phát triển công nghiệp, điều chỉnh hoạt động quản trị doanh nghiệp và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê chuyên ngành tại Việt Nam.