Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Kinh tế lâm nghiệp luôn được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và những người trực tiếp làm nghề rừng. Nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề này đã được công bố dưới dạng sách, đề tài, đề án, chương trình khoa học, luận văn, luận án và các bài viết đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành, ở các khía cạnh khác nhau. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp trên thế giới * Một số cuốn sách về kinh tế lâm nghiệp của các học giả nước ngoài Nghiên cứu những lợi ích đem lại từ rừng, Font, X và Tribe, J với bài viết “Recreation, Conservaton and Timber Prodcution: a Sustainable Relationship” (tác giả tự dịch: Giải trí, bảo vệ rừng và gỗ rừng: một mối quan hệ bền vững) đăng trong cuốn sách Du lịch và Du lịch Lâm nghiệp - Các nghiên cứu điển hình về Quản lý Môi trường, đã chỉ rõ giá trị nhiều mặt của rừng như là cung cấp gỗ, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ và phục hồi đất, điều hòa khí hậu, hấp thụ cacbon, tạo vẻ đẹp cảnh quan cho giải trí.
Những giá trị này của rừng đã đem lại rất nhiều lợi ích khác nhau cả về kinh tế, sinh thái, môi trường. Việc đánh giá đầy đủ giá trị của rừng và môi trường rừng là cơ sở để khai thác và quản lý rừng bền vững. Mặc dù, đã nhận biết được giá trị nhiều mặt của rừng nhưng trong một thời gian dài con người mới chỉ quan tâm đến giá trị từ khai thác gỗ. Chỉ đến khi các vấn đề về ảnh hưởng của việc khai thác gỗ quá mức gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường thì những vai trò của môi trường của rừng và dịch vụ môi trường rừng mới được thực sự quan tâm.
Theo bài viết này, để quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng phải đảm bảo chức năng kinh tế - xã hội của rừng [156]. Công trình nghiên cứu đã chỉ ra việc quản lý rừng hiện tại ở khu vực này không chỉ đơn thuần là quản lý để khai thác các giá trị sử dụng trực tiếp của 8 rừng (giá trị thị trường), mà còn phải bao gồm việc quản lý để khai thác các giá trị sử dụng gián tiếp (giá trị dịch vụ môi trường rừng) hay giá trị phi thị trường. Cũng trong cuốn sách này, Kearsley, G có bài viết “Balancing Tourism and Wilderness Qualities in New Zealand’s Native Forests” (tác giả tự dịch: Cân bằng du lịch và tính hoang dã của rừng bản địa ở New Zealand). Nghiên cứu tại Newzealand cho thấy, diện tích che phủ của rừng tự nhiên chiếm 1/4 diện tích cả nước và các rừng tự nhiên này phần lớn được bảo vệ hoàn toàn bởi một hệ thống các vườn quốc gia và lâm viên.
Chính phủ có quan điểm rằng bảo tồn được đặt lên trên tất cả các lợi ích khác, các hoạt động giải trí truyền thống như săn bắn trong rừng hoặc câu cá ở một số sông, hồ đều bị kiểm soát trong các giới hạn nhất định. Trong những năm gần đây, nhu cầu về giải trí ngoài trời đã tăng nhanh nhưng các hệ thống rừng vẫn được quản lý rất tốt do sự quản lý chặt chẽ cũng như quan điểm nhất quán về bảo tồn của Chính phủ [158]. Natasha Landell - Mills trong cuốn sách A global view of markets for forest environment services and their impact on the poor (tác giả tự dịch: Quan điểm toàn cầu về thị trường dịch vụ môi trường rừng và tác động của chúng đến người nghèo) đã có những đánh giá cho thấy, rừng có thể cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau và mỗi dịch vụ này sẽ có một giá trị nhất định trong tổng giá trị kinh tế của rừng, như: Hấp thụ các bon chiếm 27%; Bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 25%; Bảo vệ đầu nguồn chiếm 21%; Vẻ đẹp cảnh quan chiếm 17% và giá trị khác chiếm 10% [159]. Sự đánh giá này cho thấy, rừng có thể cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau và mỗi dịch vụ này sẽ có một giá trị nhất định trong tổng giá trị kinh tế của rừng.
* Một số công trình nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp đã được công bố dưới dạng các báo cáo khoa học và các bài viết trên các tạp chí có uy tín trên thế giới. Từ năm 1992, báo cáo của tổ chức Liên Hiệp Quốc đã chỉ ra, trong những thập kỷ gần đây người ta mới nhận thức được rằng một trong những nguyên nhân cơ bản của suy thoái rừng là không xác định được giá trị môi trường của rừng bên cạnh sự phá rừng của cộng đồng địa phương [155]. Những sự thay đổi 9 về nhận thức giá trị môi trường rừng được thể hiện rõ nét thông qua những thay đổi về chính sách và luật về lâm nghiệp của nhiều nước trên thế giới. Sven Wunder với công trình nghiên cứu “Payments for environmental services” (tác giả tự dịch: Chi trả cho các dịch vụ môi trường) khẳng định giá trị của rừng là rất lớn.
Với tầm quan trọng này nhiều tổ chức, quốc gia đã hình thành các cơ chế khác nhau nhằm quản lý dịch vụ môi trường rừng trên quan điểm coi dịch vụ môi trường là một loại hàng hoá. Một số quốc gia đã tiến hành nghiên cứu và xây dựng cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường rừng - PFES (Payment for Environment Services) nhằm quản lý bền vững các dịch vụ môi trường rừng. Theo đó, các khái niệm và thuật ngữ được thừa nhận để chỉ sự thương mại các dịch vụ môi trường như: chi trả, đền đáp, thị trường, bồi thường [160]. Đây được coi là những xu hướng mới nhằm quản lý dịch vụ môi trường rừng và hướng tới phát triển bền vững.
Bước sang thế kỷ XXI, vai trò của rừng đã được đánh giá một cách toàn diện hơn. Theo đánh giá của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) trong “Making forest pay” (đăng trên Tạp chí Quốc tế về lâm nghiệp và công nghiệp rừng), rừng được coi là bộ phận không thể thay thế của môi trường sinh thái, giữ vai trò quan trọng trong đời sống con người và là cơ sở để phát triển nhiều ngành kinh tế khác [156]. Vì vậy, giá trị của rừng không chỉ là giá trị trực tiếp mà còn có giá trị gián tiếp (giá trị dịch vụ môi trường rừng).A với bài viết “What price recreation in Finland? Contingent valuation study of non - market benefits of public outdoor recreation areas. Theo bài viết, tình trạng này, nhất là ở những nước nghèo, đã không khuyến khích người làm lâm nghiệp bảo vệ và phát triển những giá trị môi trường rừng, dẫn đến thiệt hại cho nhiều ngành sản xuất và đời sống nói chung.
Thực tế đó đã buộc những người làm nghề rừng và những người hưởng lợi chính từ giá trị môi trường rừng 10 phải hợp tác với nhau, chia sẻ với nhau trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát triển những giá trị môi trường rừng. Trong quá trình đó, những giá trị môi trường rừng được phân tích, lượng giá, mua bán, trao đổi như những hàng hoá và dịch vụ khác. Người ta gọi những lợi ích môi trường của rừng được đưa ra trao đổi, mua bán như vậy là dịch vụ môi trường rừng. Tuy nhiên, trong thời gian dài kết quả nghiên cứu giá trị của môi trường rừng chỉ có ý nghĩa làm tăng kiến thức của con người về giá trị nhiều mặt của rừng, làm thay đổi giá trị của rừng mà chưa trở thành căn cứ cho những quyết định về biện pháp tác động vào rừng.
Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở Việt Nam * Một số cuốn sách về kinh tế lâm nghiệp Ở Việt Nam, các cuốn sách viết về lâm nghiệp rất đa dạng và phong phú, chủ yếu tập trung vào khía cạnh kĩ thuật trên 3 lĩnh vực: lâm sinh, công nghiệp rừng, chính sách kinh tế lâm nghiệp. Trong cuốn sách Lâm nghiệp Việt Nam 1945 - 2000, tác giả Nguyễn Văn Đắng (chủ biên), đã tập hợp nhiều bài viết của nhiều nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu khoa học lâm nghiệp tổng kết quá trình phát triển lâm nghiệp Việt Nam. Trong đó, khái quát quá trình xây dựng và phát triển ngành Lâm nghiệp Việt Nam trong 55 năm từ 1945 đến năm 2000 [47]. Cuốn sách đã hệ thống những tư liệu, sự kiện, thành tựu và hạn chế của ngành lâm nghiệp qua 55 năm phát triển.
Cũng qua thực tiễn nghiên cứu, tổng hợp, các nhà lãnh đạo, nhà khoa học lâm nghiệp bước đầu đã đúc rút những kinh nghiệm về sự quản lý, xây dựng, bảo vệ và phát triển của ngành Lâm nghiệp giai đoạn 1945 - 2000. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế lâm nghiệp chưa khái quát một cách hệ thống, xuyên suốt, liên tục, nên khó nhận thấy sự khác biệt giữa các giai đoạn phát triển của ngành. Trong cuốn sách Nghiên cứu nhu cầu nông dân, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) và UNDP biên soạn, các tác giả đã đánh giá quá trình phát triển lâm nghiệp Việt Nam (tr.90-97) dưới góc độ tổ chức quản lý trong lâm nghiệp, về quyền chứng nhận sổ đỏ, về thái độ đối với lâm nghiệp. Tác giả Nguyễn Duy Quý trong cuốn sách Việt Nam - 20 năm đổi mới đã phân tích, so sánh, tổng kết, đánh giá thành tựu trên tất cả các lĩnh vực của 20 năm đổi mới, trong đó có những thành tựu về kinh tế nông - lâm nghiệp - thủy 11 sản; đồng thời chỉ ra những khó khăn, hạn chế của ngành lâm nghiệp, nhất là hiện tượng rừng và tài nguyên bị xâm hại nghiêm trọng [77].
Trong cuốn sách Lâm nghiệp Việt Nam - nhìn lại chặng đường hơn 20 năm đổi mới cùng đất nước [14], các tác giả đã đánh giá về thành tựu của ngành Lâm nghiệp qua hơn 20 năm đổi mới. Cuốn sách gồm 15 chương, với nhiều nội dung khác nhau, trong đó chương "Lâm nghiệp Việt Nam trước thời kỳ đổi mới" luận giải nhiều vấn đề của ngành Lâm nghiệp trước thời kỳ đổi mới. Chương VI của cuốn sách viết về ngành chế biến, thương mại gỗ và lâm sản trong thời kỳ đổi mới. Số lượng các doanh nghiệp trong ngành chế biến gỗ, sự phân bố doanh nghiệp, khối lượng xuất khẩu gỗ, nhập khẩu gỗ của Việt Nam được thống kê một cách chi tiết từ năm 2004 đến năm 2008.
Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu khái quát những kết quả chính của ngành lâm nghiệp như: sự thay đổi trong hệ thống chính sách, thể chế, phương thức quản lý.