Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Trong chương này trình bày các vấn đề: Lý do chọn đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Lược khảo các nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu… Chương 2: Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh Trình bày tổng quan về các công trình nghiên cứu trước; Tuyển chọn lý thuyết làm cơ sở lý luận. Các thuật ngữ, khái niệm… được trình bày ở chương này để sử dụng trong các chương sau và lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày, phân tích các thành phần cấu thành chỉ số PCI của Kiên Giang và các tỉnh lân cận. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương này trình bày các nội dung sau: Khái quát kinh tế xã hội Kiên Giang, Chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Kiên Giang, So sánh chỉ số PCI của tỉnh Kiên Giang với cả nước, So sánh chỉ số PCI với các tỉnh ĐBSCL, So sánh chỉ số PCI của Kiên Giang giai đoạn 2007-2015 với Đồng Tháp và TP.
Cần Thơ và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh. Cuối cùng là phần Kết luận và Khuyến nghị. 123doc 5 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 2. Lý thuyết về cạnh tranh 2.
Cạnh tranh là gì? Hiện nay thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, chính trị, quân sự, luật, thể thao… cả trong sách báo chuyên môn, các diễn đàn kinh tế và được nhiều nhà kinh tế, khoa học quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau với nhiều cách tiếp cận. Theo kinh tế chính trị học: “ Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành giật thị trường khách hàng cho doanh nghiệp mình”. Đó là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ.Mác “Cạnh tranh là sự ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch”, nghiên cứu sâu về nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành.
Theo Michael Porter (1980) thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. 123doc 6 Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992) ở Anh: “Cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là sự ganh đua kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình”.
Các nhà khoa học của Việt Nam khi đề cập tới cạnh tranh thì cho rằng: cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hoá, dịch vụ (mua và bán) và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế. Nói khác đi, mục đích trực tiếp của hoạt động cạnh tranh trên thị trường của chủ thể kinh tế là giành lợi thế để hạ thấp giá các yếu tố "đầu vào" của chu trình sản xuất - kinh doanh và nâng cao giá "đầu ra" sao cho mức chi phí thấp nhất, giành được mức lợi nhuận cao nhất. Qua đó có thể hiểu cạnh tranh là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự thay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận. Đặc trƣng cơ bản của cạnh tranh Cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trường động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động tạo sự phát triển của xã hội nói chung.
Cạnh tranh là quy luật tất yếu của môi trường phát triển, là cơ chế vận động của thị trường. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số lượng nhà cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết quả cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Cạnh tranh mang bản chất của mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau.
Nói đến cạnh tranh là nói đến một quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể. Nếu chỉ có một chủ thể (độc quyền) thì không có cạnh tranh nhưng nếu có nhiều chủ thể mà không cùng mục tiêu thì cạnh tranh, sức cạnh tranh cũng giảm xuống. Do vậy, các chủ thể phải có cùng mục tiêu thì mới xảy ra cạnh tranh. Các doanh nghiệp cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận tối đa, vì sự tồn tại và 123doc 7 phát triển của doanh nghiệp.
Còn người tiêu dùng thì có mục tiêu chung là tối đa hoá mức độ thoã mãn hoặc sự tiện lợi khi tiêu thụ sản phẩm. Các chủ thể cạnh tranh phải tuân theo một ràng buộc chung được quy định thành văn hoặc bất thành văn, những ràng buộc này có thể là hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế, các thông lệ và tập quán kinh doanh trên các thị trường hoặc trên một thị trường cụ thể, đặc điểm nhu cầu và thị hiếu của khách hàng… Cạnh tranh diễn ra trong một khoảng thời gian và không gian không cố định. Trong môi trường kinh doanh sôi động và biến động nhanh chóng, cạnh tranh không chỉ với mục đích giá tăng thị phần trên thị trường hiện tại mà quan trọng hơn là phát triển thị trường mới. Các hình thức cạnh tranh 2.
Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh Cạnh tranh giữa người bán và người mua Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của mình. Người bán muốn bán với giá cao nhất để tối đa hoá lợi nhuận còn người mua muốn mua với giá thấp nhưng chất lượng vẫn được đảm bảo và mức giá cuối cùng vẫn là mức giá thoả thuận giữa hai bên. Cạnh tranh giữa những người mua với nhau Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu. Lúc này hàng hóa trên thị trường sẽ khan hiếm, người mua để đạt được nhu cầu mong muốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những người mua, kết quả là giá cả hàng hoá sẽ tăng lên, những người bán sẽ thu được lợi nhuận lớn trong khi những người mua bị thiệt thòi cả về giá cả và chất lượng, nhưng trường hợp này chủ yếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và xảy ra ở một số nơi khi diễn ra hoạt động bán đấu giá một loại hàng hoá nào đó.
Cạnh tranh giữa những người bán với nhau Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơn sức cầu rất nhiều, khách hàng được coi là thượng đế 123doc 8 của người bán, là nhân tố có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Do vậy các doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để giành những ưu thế và lợi thế cho mình. Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition) Cạnh tranh hoàn hảo là một hình thức đơn giản của cấu trúc thị trường trong đó người mua và người bán đều không đủ lớn để tác động đên giá cả thị trường. Nhóm người mua tham gia trên thị trường này chỉ có cách thích ứng với mức giá đưa ra vì cung cầu trên thị trường được tự do hình thành, giá cả do thị trường quyết định.
Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition) Đây là hình thức cạnh tranh phổ biến, khi đó sẽ tồn tại một hay một vài doanh nghiệp có đủ sức mạnh có thể chi phối được giá cả của sản phẩm. Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh mà phần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm mang nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét về chất lượng thì sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn rất nhiều. Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition) Cạnh tranh độc quyền là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số chủ thể có ảnh hưởng lớn buộc các đối tác của mình phải bán hoặc mua sản phẩm của mình với giá rất cao và những chủ thể này có thể làm thay đổi giá cả thị trường. Có hai loại cạnh tranh độc quyền đó là: độc quyền bán và độc quyền mua.
Độc quyền bán tức là chiếm ưu thế cung cấp trên thị trường (có ít người bán) có thể chi phối giá bán trên thị trường. Độc quyền mua khi có nhiều nhà cung cấp, sản xuất một vài mặt hàng trên thị trường, khi đó rất có lợi cho người tiêu dùng và nhà cung cấp, sản xuất cần thúc đẩy các kỹ năng marketing, quảng cáo, chăm sóc khách hàng… nhằm lôi kéo khách hàng về phìa mình. 123doc 9 Trong thực tế có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào thay thế, tạo ra sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau gây trở ngại cho quá trình phát triển sản xuất và làm tổn hại đến người tiêu dùng. Vì vậy phải có một đạo luật chống độc quyền nhằm chống lại liên minh độc quyền của một số nhà kinh doanh.
Độc quyền tập đoàn Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất. Lúc này cạnh tranh sẽ xảy ra giữa một số lực lượng nhỏ các doanh nghiệp.