CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN 1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế tư nhân Trong quá trình xây dựng học thuyết kinh tế của mình, C.Lênin đã bàn đến KTTN. Trong các tác phẩm, họ đề cập mức độ đậm nhạt khác nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở điểm chung là KTTN là một lĩnh vực kinh tế như các lĩnh vực kinh tế khác cấu thành nền kinh tế quốc dân.
Theo đó, KTTN bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Khi bàn về hình thức kinh tế cá thể, tiểu chủ, nhất là tiểu nông, Ph.Ăngghen đã viết: “Tiểu nông là người mà chúng ta nói ở đây, sở hữu hoặc đi thuê – và nhất là người sở hữu – một mảnh ruộng đất không lớn hơn số ruộng đất mà họ thường có thể cày cấy cùng với gia đình họ, và cũng không bé hơn số ruộng đất cần thiết để nuôi gia đình họ. Cũng như người tiểu thủ công, người tiểu nông này là một người lao động, anh ta khác với người vô sản hiện đại ở chỗ là anh ta còn sở hữu những tư liệu lao động, như vậy anh ta là tàn dư của một phương thức đã lỗi thời” (C. Như vậy, theo như Ph.Ăgghen thì kinh tế cá thể, tiểu chủ là một loại hình kinh tế tàn dư của phương thức sản xuất đã lỗi thời trong lịch sử.
Tuy nhiên, nó vẫn phát huy tác dụng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, ở đó thể hiện mối quan hệ kinh tế không bóc lột, họ cũng như giai cấp công nhân, đều là những người lao động chân chính. Còn kinh tế tư bản tư nhân là một hình thức kinh tế thuộc phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nó không có cùng bản chất với kinh tế cá thể, tiểu 123doc 9 chủ. Đó là một hình thức bóc lột của nhà tư bản đối với người làm thuê.Ăngghen đã viết như sau: “Vậy sản xuất tư bản tư nhân nghĩa là gì? Là sản xuất của người kinh doanh riêng biệt; và sản xuất ấy há chẳng ngày càng trở thành một ngoại lệ đó sao? Sản xuất tư bản chủ nghĩa của những công ty cổ phần đã không còn là một nền sản xuất tư nhân nữa, mà là một nền sản xuất cho một số đông cổ đông”(V. Như vậy, theo Ph.Ăngghen kinh tế tư bản tư nhân là một hình thức kinh tế tư bản chủ nghĩa mang tính ngoại lệ ở chỗ, đó là phân biệt chủ thể sở hữu của những nhà tư bản đối với tư liệu sản xuất.
Theo quan điểm của Mác, bản chất của xoá bỏ chế độ tư hữu là xóa bỏ chế độ kinh tế trong đó một thiểu số người nắm tư liệu sản xuất dùng để bóc lột, nô dịch đa số người lao động làm thuê.Ăngghen đã viết: “Chủ nghĩa cộng sản không tước của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác” (C.Mac-Angghen,1995,tr. Khi nói về KTTN, V.Lênin cũng đã bàn nhiều đến vấn đề này, trong đó nhấn mạnh phát triển kinh tế tư bản tư nhân. Hồi đó, ở nước Nga, V.Lênin đã chủ trương thực hiện kinh tế NEP, V.Lênin cho rằng, từ trình độ xuất phát về kinh tế, kỹ thuật thấp như nước Nga phải học tập các nhà tư bản, phải làm phần việc mà nhà tư bản cần làm là xây dựng chủ nghĩa tư bản nhà nước.Lênin, ở Liên Xô là một nước tiểu nông, lực lượng cơ bản là nông dân, vì vậy, mấu chốt cơ bản nhất, cấp thiết nhất là: “phục hồi ngay những lực lượng sản xuất của kinh tế nông dân” (V.
Theo Người, không nên xoá bỏ KTTN vì nó có vai trò và tác dụng nhất định, Người viết: “tìm cách ngăn cấm, triệt để mọi sự phát triển của sự trao đổi tư nhân, không phải là quốc doanh, tức là của thương mại, tức là của chủ nghĩa tư bản, một sự phát triển không thể tránh khỏi được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ. Chính sách ấy là một sự dại dột và tự sát đối với đảng nào muốn 123doc 10 áp dụng nó. Dại dột, vì về phương diện kinh tế chính sách ấy là không thể nào thực hiện được; tự sát, vì những đảng nào định thi hành một chính sách như thế, nhất định sẽ bị phá sản” (V. Trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã bàn về KTTN.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng, trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó vai trò KTTN không kém phần quan trọng, bởi vì nước ta xuất phát từ một nước nông nghiệp kém phát triển. Người viết: “… đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (Hồ Chí Minh,1996,tr. Người cho rằng: “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau: A - Kinh tế quốc doanh (thuộc CNXH, vì nó là của chung của nhân dân). C – Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa CNXH).
E – Tư bản nhà nước. Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển cao hơn cả, cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản” (Hồ Chí Minh,1996,tr. Như vậy, trong năm thành phần kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi KTTN bao gồm: “ C– Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội).” Đây là những thành phần kinh tế sẽ tồn tại trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong các thành phần kinh tế, Người đã phân tích rất rõ 123doc 11 mối quan hệ giữa kinh tế quốc doanh, tập thể với KTTN.
Người viết: “Chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ gồm có mấy điều: 1. Công tư đều lợi: Kinh tế quốc doanh là công. Là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới (…). Tư là nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thợ thủ công nghệ.
Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên chính phủ cần phải giúp đỡ họ phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải phù hợp lợi ích của đại đa số nhân dân. Chủ thợ đều lợi: Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột.
Nhưng chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính phủ phải bảo vệ quyền lợi của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ một số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức. Chủ và thợ đều tự giác tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên.” (Hồ Chí Minh,1996,tr.
Trong tư tưởng của Người hoàn toàn xa lạ với thái độ đối lập với KTTN, trái lại, Người xác định rất rõ vai trò của KTTN trong tiến trình phát triển kinh tế đất nước. Đồng thời với việc xác định phân loại các thành phần kinh tế, Người cũng xác định các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất: “ - Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân. - Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động. - Sở hữu của người lao động riêng lẻ.
- Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản.” (Hồ Chí Minh,1996,tr. Như vậy, trong tư tưởng của Người đã thừa nhận sở hữu về tư liệu sản xuất của thành phần KTTN. Người cũng có thái độ dứt khoát đề ra chủ trương phát triển các thành phần thuộc KTTN như sau: 123doc 12 “ – Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện.
- Đối với những nhà tư sản công thương Nhà nước không xoá bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Đồng thời Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác” (Hồ Chí Minh,1996,tr. Như vậy, trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện quan điểm rất rõ ràng về vị trí, vai trò của KTTN và Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng chủ trương, chính sách phát triển KTTN góp phần phát triển kinh tế của quốc gia. Kinh tế tư nhân và Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân 1.
Kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân là một phạm trù kinh tế mà trong công cuộc đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm. Để hiểu rõ KTTN chúng ta cần tìm hiểu về sở hữu tư nhân trong mối quan hệ với KTTN. Vì chế độ sở hữu nó có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức kinh tế xã hội. KTTN gắn liến với sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên chúng ta cần phải làm rõ về sở hữu tư nhân.
Sở hữu là một vấn đề xuất hiện khi lực lượng sản xuất phát triển. Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người luôn tìm cách chiếm hữu những của cải tự nhiên để thỏa mãn nhu cầu của mình. Chiếm hữu những của cải ấy nói lên mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất. Trình độ phát triển của chiếm hữu thể hiện ở cách thức, phương 123doc 13 tiện thực hiện và kết quả mà nó thu được, nói lên trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Tuy nhiên, để mỗi cá nhân chiếm hữu được những tư liệu sản xuất cho mình, con người phải liên kết với nhau tạo thành quan hệ xã hội trong quá trình thực hiện chiếm hữu. Trong quan hệ xã hội ấy, các thành viên trong cộng đồng thừa nhận lẫn nhau về cơ sở và kết quả của sự chiếm hữu của các thành viên trong cộng đồng, đó chính là sở hữu.