Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan; Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển CNHT; Chương 3. Thực trạng phát triển CNHT trên địa bàn thành phố Hà Nội; Chương 4.
Giải pháp đẩy mạnh phát triển CNHT trên địa bàn thành phố Hà Nội. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1. Những công trình nghiên cứu về phát triển công nghiệp hỗ trợ 1. Những công trình nghiên cứu ngoài nước a.
Các nghiên cứu liên quan đến thu hút đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ Mối quan hệ giữa việc thu hút vốn FDI và phát triển CNHT được tác giả Prema-Chandra Athukorala thể hiện trong nghiên cứu “Đầu tư nước ngoài trực tiếp và xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo: cơ hội và chiến lược” [114]. Nghiên cứu này đã phân tích về vai trò và mối quan hệ của sản phẩm chi tiết, công nghiệp chế tạo hỗ trợ cho quá trình sản xuất sản phẩm chính đối với việc thu hút FDI. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra những cơ hội, thách thức trong thu hút FDI và để thu hút FDI hiệu quả, cần quan tâm phát triển công nghiệp chế tạo, đó là chìa khóa cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Vai trò của vốn FDI trong phát triển CNHT được tác giả Đỗ Mạnh Hồng tranh luận trong nghiên cứu “Promotion of Supporting Industries - The key for attracting FDI in developing countries” (Xúc tiến CNHT - chìa khóa cho thu hút FDI ở các nước đang phát triển) [97].
Tác giả đã chỉ ra vai trò ngày càng quan trọng của CNHT trong quá trình phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển. Để thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững, các nước đang phát triển cần tạo mọi điều kiện để thu hút FDI, song để thu hút được nhiều vốn FDI và sử dụng có hiệu quả nguồn FDI, các nước đang phát triển chỉ có một con đường duy nhất là thúc đẩy và xây dựng một nền CNHT đủ mạnh để thu hút và thẩm thấu được nguồn vốn FDI đem lại hiệu quả và sự phát triển bền vững cho nền kinh tế của các nước đang phát triển. Các nghiên cứu liên quan đến chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ Porter E. trong bài viết “The competitive advantage of nations, Harvard business review” đã phân tích, giải thích thuật ngữ “Công nghiệp liên quan và hỗ trợ” [113].
Tác giả phân tích khá sâu sắc thuật ngữ này thông qua việc đưa ra lý thuyết về khả năng cạnh tranh quốc gia qua mô hình “viên kim cương”. Trong đó, công nghiệp liên quan và hỗ trợ được coi là một trong bốn nhân tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia. “Công nghiệp liên 13 quan và hỗ trợ” được coi là sự tồn tại của ngành cung cấp và ngành công nghiệp liên quan có năng lực cạnh tranh quốc tế. Tác giả đã chia nhân tố này thành hai phần là CNHT và công nghiệp liên quan.
Theo đó, sự phát triển của một ngành công nghiệp đạt được phải dựa trên khả năng sáng tạo, đổi mới và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư thông qua mối quan hệ tác động qua lại và sự liên kết bền vững như cấu trúc tinh thể của kim cương giữa bốn nhóm nhân tố, trong đó có nhấn mạnh vai trò của CNHT. E đã đi sâu phân tích mối quan hệ giữa DNNVV với CNHT tại hai quốc gia là Nhật Bản và Thái Lan, từ đó chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa DNNVV với CNHT [115]. Nghiên cứu chỉ rõ, CNHT chủ yếu do DNNVV thực hiện, do đó muốn CNHT phát triển, phải tạo điều kiện thúc đẩy DNNVV phát triển. Nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng của CNHT trong thúc đẩy hệ thống các DNNVV phát triển.
Tổ chức năng suất Châu Á trong nghiên cứu “Strengthhening of supporting Industries: Asian Experiences” (Đẩy mạnh CNHT: các kinh nghiệm của Châu Á) đã đúc kết kinh nghiệm phát triển CNHT, tập trung phân tích chính sách phát triển CNHT qua các thời kỳ ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan [94]. Đặc biệt, thông qua việc phân tích tình hình phát triển CNHT và các chính sách thúc đẩy CNHT phát triển ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan các tác giả đã chỉ rõ vai trò quan trọng của các chính sách bằng việc tập trung vào phân tích vai trò thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển CNHT, cũng như những quy định về tỷ lệ nội địa hoá và các chính sách hỗ trợ mạnh mẽ có hiệu quả từ phía chính phủ dành cho quá trình liên kết doanh nghiệp, tất cả các chính sách này được coi như là điều kiện tiên quyết để phát triển CNHT ở các nước Châu Á. Trong ấn phẩm “Survey on comparision of backgrounds, policy measuares and outcomes for development of supporting industries in ASEAN (Malaysia and Thailand in comparion with VietNam)” (Điều tra so sánh bối cảnh, biện pháp, chính sách và kết quả phát triển CNHT ở ASEAN), các tác giả đi sâu vào phân tích Malaysia và Thái Lan, là hai trong số các nước ở ASEAN đã có rất nhiều chương trình dành cho CNHT từ những năm 1980 [97]. Thông qua việc phân tích các vấn đề bối cảnh; tổ chức chính sách và các bên liên quan; định nghĩa và phạm vi của CNHT; các biện pháp chính sách; ảnh hưởng chính sách và kết quả đạt được.
các tác giả đưa ra những so sánh với Việt Nam trên cơ sở 14 nghiên cứu hiện trạng CNHT Việt Nam, những thành tựu và bất cập về khung chính sách. Từ đó, đưa ra 07 phát hiện chính từ kết quả so sánh, đó là: khủng hoảng - chất xúc tác cho chính sách; tác động qua lại giữa lợi ích quốc gia và lợi ích nước ngoài thời kỳ toàn cầu hóa; xúc tiến mở và xúc tiến bắt buộc; áp dụng có điều chỉnh; sự quan tâm đến xúc tiến CNHT; các biện pháp chính sách và việc tổ chức thực hiện. Từ những phân tích đó, các tác giả chỉ ra nét tương đồng và sự khác biệt rất lớn về chính sách của hai quốc gia này, song dù bằng cách nào, mỗi quốc gia đều thiết lập cho mình một phương thức hoạch định chính sách công nghiệp tiên tiến và Việt Nam có thể học hỏi một cách có chọn lọc từ những kinh nghiệm khác nhau nhưng vô cùng sâu sắc của hai quốc gia này. Các nghiên cứu có liên quan đến phát triển công nghiệp hỗ trợ Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) trong báo cáo “Survey report on overseas business operations by Japanese manufacturing companies” (Báo cáo khảo sát các bộ phận ở nước ngoài của các công ty lắp ráp Nhật Bản) đã phân tích thực tế quá trình sản xuất của chi nhánh thuộc các tập đoàn Nhật Bản ở Châu Á, đặc biệt là Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sử dụng hệ thống thầu phụ được hình thành với vai trò mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện có vốn đầu tư từ Nhật Bản [102].
Đó chính là các doanh nghiệp CNHT. Hệ thống thầu phụ này cung cấp các nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng cho các nhà sản xuất, lắp ráp tại các nước Châu Á như: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, giúp cho các nước này hoàn chỉnh quá trình sản xuất sản phẩm [103]. McNamara nhìn nhận CNHT với bối cảnh khu vực trong tác phẩm “Integrating Supporting Industries - APEC next Challege” [95]. Tác giả đã luận giải những vấn đề làm thế nào để các thành viên APEC cùng nhau thúc đẩy mạng lưới doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hiệu quả hơn nhằm hỗ trợ của các công ty sản xuất có vốn đầu tư nước ngoài.
Dù đã có nhiều chính sách được đưa ra nhưng vấn đề cung cấp sản phẩm CNHT được đề cập đến như là mô hình kịp thời để giải quyết mối quan hệ lợi ích và khắc phục những hạn chế của APEC trong quá trình chuyển đổi. Bởi các nhà sản xuất thành phần chính sẽ tham gia vào đối thoại và đại diện phần nào cho mạng lưới nhà cung cấp vừa và nhỏ mà họ phối hợp. Do đó, cần xây dựng mạng lưới được phân biệt rõ giữa nhà cung cấp lớn hơn và nhỏ hơn, sau đó tìm cách để kết hợp lại các ý kiến về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực chính. 15 “Phân tích thực trạng ngành CNHT cơ khí tại Malaysia” do Thomas Brandt nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí về khuôn mẫu và khuôn chết, gia công, công nghiệp chế tạo máy, công nghiệp cán kim loại, công nghiệp đúc, công nghiệp xử lý nhiệt, công nghiệp xử lý bề mặt…, từ đó khẳng định máy móc đã phát triển nhanh chóng trong vòng 3 thập kỷ qua song song với sự phát triển tổng thể của ngành công nghiệp sản xuất quốc gia [115].
Malaysia đã được quốc tế công nhận về khả năng và chất lượng sản xuất trong rất nhiều lĩnh vực của ngành cơ khí. Từ đó đưa ra kết luận về sự đóng góp vô cùng to lớn của ngành CNHT cơ khí cho quá trình phát triển ngành công nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung. Do đó, để phát triển CNHT cơ khí đòi hỏi phải duy trì lợi thế cạnh tranh thông qua kỹ năng học tập tiên tiến, chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm bao trùm những hoạt động phức tạp này, bằng cách: giảm tổng chi phí; giảm thời gian đưa ra thị trường; theo dõi và quản lý các sản phẩm phức tạp và giới thiệu hiệu quả hơn các sản phẩm mới; quản lý hoạt động toàn cầu; dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách hàng và nhà cung cấp nhanh chóng; thiết lập trung tâm dịch vụ giá trị cao có khả năng phát triển với sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Những công trình nghiên cứu trong nước a.
Các nghiên cứu liên quan đến phát triển công nghiệp hỗ trợ cho các ngành cụ thể “Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Nghiên cứu trường hợp công nghiệp hỗ trợ cho ngành sản xuất ô tô, xe máy” là đề tài nghiên cứu khoa học cấp viện của Viện Kinh tế Việt Nam do Nguyễn Trọng Xuân làm chủ nhiệm. Nhóm tác giả của nghiên cứu này đã đánh giá khái quát CNHT Việt Nam, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển, đặc biệt là đi sâu phân tích thực trạng CNHT trong hai ngành ô tô và xe máy thông qua việc nghiên cứu nhu cầu về sản phẩm hỗ trợ và thực trạng cung cấp sản phẩm hỗ trợ trong hai ngành này. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp phát triển cho hai ngành ô tô và xe máy, đặc biệt là quan tâm, xây dựng một hệ thống CNHT đảm bảo phục vụ ngành công nghiệp ô tô, xe máy nói riêng, cũng như toàn ngành kinh tế nói chung [91].