CHƯƠNG 1 TONG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VE QUAN LY VON TẠI QUY ĐẦU TƯ VÀ PHAT TRIEN DIA PHƯƠNG 1.1 Tong quan tình hình nghiên cứu đề tài Điều quan trọng nhất của đầu tư là bảo toàn vốn. Sự bảo toàn vốn là việc quyết định xem bao nhiêu danh mục đầu tư đã chuẩn bị sẵn sảng chấp nhận rủi ro mà vẫn có thể đảm bảo không bị thâm hụt nhiều. Sự thành công của việc bảo toàn vốn có thé khác biệt giữa một quỹ vốn thành công mà có thé kiểm soát trong tương lai và một quỹ vốn không thành công bị tiêu hao theo năm tháng. Và để có một cơ chế quản lý và vận hành xuyên suốt và vững chãi đòi hỏi phải có sự công tác quy hoạch, quy trình xử lý cũng như cách sử dụng vốn có hiệu quả.
Không nằm ngoài quy luật đó, Quỹ đầu tư phát triển thành phố Hà Nội cũng đã đặt ra mục tiêu phải tìm tòi và phát triển thêm những hình thức huy động vốn mới nhằm thu hút thêm nguồn vốn huy động cho Thành phó nói chung và cho Quỹ đầu tư phát triển thành phố Hà Nội nói riêng. Chính vi vậy đây là van dé cấp thiết cần được nghiên cứu và hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến van dé quản lý vốn như: Lê Thanh Hải, 2016. Quản lý vốn dau tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của các cơ quan Đảng ở Trung ương. Trường Đại học kinh tế Quốc Dân.
Tác giả đưa ra những lí do tai sao cần quản lý nguồn vốn, thực trạng và những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý vốn đầu tư tại cơ quan trung ương. Đề tài này chỉ ra những tồn đọng và những bài học, kinh nghiệm quản lý nguồn vốn từ một số quốc gia khác cho người đọc cái nhìn toàn cảnh về tình hình chung của các cơ quan khác. Bài viết của chuyên gia kinh tế Ngô Tri Long trên báo Lao Động, 2016: Ä⁄ô hình nào cho quản lý vốn nhà nước? Tại đây ông phân tích mô hình hiện tại đang áp dụng về quản lý vốn nhà nước, đồng thời ông đề xuất thêm mô hình theo một số nhóm ngành như sản xuất vật chất, tài chính, phi tài chính. Nếu từng doanh nghiệp hoạt động tốt, đến thời điểm thích hợp, chúng ta có thé hợp nhất doanh nghiệp lại.
Làm theo hình thức này, việc chuyên đổi sẽ có lộ trình và kinh nghiệm cho thay các DN có quy mô nhỏ sẽ linh hoạt, được kiểm soát chặt chẽ hơn một tổ chức quy mô cực lớn. Hồ Thị Hương Mai, 2015. Quản lý nhà nước về von dau tư trong phát triển kết cấu hạ tang giao thông đô thị thành phó Hà Nội. Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh.
Đề tài này đưa ra những phương án về công tác quản lý vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tang giao thông đô thị thành phố Hà Nội nhằm hệ thống hóa một số van đề cơ bản về quản lý vốn dau tư phát triển; phân tích thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư phát triển kết cầu hạ tang giao thông đô thị thành phố Hà Nội; đề xuất một số giải pháp tăng cường quan lý vốn đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tang giao thông đô thị Hà Nội đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu phát triển trong thời gian toi. Nguyễn Trọng Co & Nghiêm Thi Tha, 2015. Giáo trình phân tích tai chính doanh nghiệp. Học Viện Tài Chính.
Với việc cập nhật kịp thời những kiến thức mới về quản tri tai chính doanh nghiệp của thế giới, gắn với điều kiện và đặc điểm phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, cuốn giáo trình được biên soạn hết sức cơ bản, xuyên suốt có tính hệ thống từ vai trò của nhà quản trị tài chính, các công cụ quản trị tài chính đến việc ra các quyết định tài chính như quyết định đầu tư vốn, quyết định huy động vốn, quyết định phân phối lợi nhuận và lập kế hoạch tài chính cho doanh nghiệp. Lưu Thị Huong, “Tài chính doanh nghiệp ”, 2010. Đại học kinh tế quốc dân. Giáo trình này có mục đích cung cấp kiến thức cơ bản về tài chính của các doanh nghiệp, đồng thời tác giả dành riêng một chương nói về vấn đề quản lý nguồn vốn.
Các chương liên quan phân tích chỉ tiết về tài chính và lấy tiền đề đưa ra các mức độ quan trọng tại sao cần quản lý nguồn vốn. Qua khảo sát một số đề tài, tác giả nhận thấy đã có những đề tài nghiên cứu khoa học vê quản lý von ở một sô ngành, cơ quan, địa phương khác nhưng chưa có công trình nào đề cập đến công tác quản lý vốn tại Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Hà Nội. Có một số đề tài khác cũng nghiên cứu quản lý vốn nhưng có các hướng tiếp cận khác nhau như phát triển ha tang, đi sâu vào từng dự án của một số quận trong địa bàn thành phố Hà Nội và có những giải pháp khác với hướng tiếp cận của tác giả. Vì vậy tác giả tin rằng đề tài này sẽ đóng góp nhiều cho công tác quản lý vốn tai Quy Đầu tư phát triển thành phố Hà Nội và các đề tài liên quan đến công tác quản lý vốn ở các địa phương trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Cơ sở lý luận về quản lý vốn tại quỹ đầu tư và phát triển địa phương 1. Khái quát về Quỹ đầu tư phát triển địa phương 1. Khái nệm Quỹ Đầu tư phát triển địa phương là một loại hình t6 chức tài chính trung gian “đặc biệt” của địa phương nhằm thu hút các nguồn lực tài chính để thực hiện mục tiêu, chức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương. Quỹ Đầu tư phát triển địa phương hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, đảm bảo an toan và phát triển vốn, tự bù đắp chi phi, tự chịu trách nhiệm về những rủi ro trong quá trình hoạt động và chịu sự chi phối nhất định của chính quyền địa phương.
Cùng với các loại hình tổ chức tài chính khác, Quỹ Đầu tư phát triển địa phương được Chính phủ và chính quyền địa phương xác định là một công cụ quan trọng và cần thiết dé cân đối và huy động các nguồn vốn bổ sung vào nguồn tài chính còn hạn hẹp của ngân sách địa phương, nhằm tập trung, thu hút các nguồn lực đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương cũng như của cả nước. Sự khác biệt giữa Quỹ Dau tư phát triển địa phương với các ngân hang thương mại - Quỹ Đầu tư phát triển địa phương không đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu như các ngân hàng thương mại. - Hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND cấp tỉnh và có mối liên hệ chặt chẽ với các Sở, ngành nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, trong khi hoạt động của các ngân hàng thương mại dàn trải trên nhiều lĩnh vực khác nhau theo khuôn khổ pháp luật quy định. - Các ngân hàng thương mại không bị giới hạn đối tượng, lĩnh vực hoạt động trong khi đối tượng cho vay, đầu tư của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương chỉ ở một SỐ ngành, lĩnh vực nhất định (các dự án kết cau hạ tầng thuộc các chương trình, mục tiêu theo chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các lĩnh vực trọng điểm của từng địa phương).
- Dịch vụ của các ngân hàng thương mại đa dạng hơn của Quỹ Đầu tư (như việc huy động tiền gửi của dân, lãi suất tin dụng linh hoat. - Tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của ngân hàng thương mại cao hơn Quỹ Đầu tư phát triển địa phương. Các hình thức hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương Xuất phát từ đặc điểm của các đối tượng hé trợ đích của đầu tư phát triển, các hình thức hoạt động của Quỹ Dau tư phát triển địa phương bao gồm: huy động vốn, đầu tư trực tiếp, cho vay đầu tư và một số hoạt động khác. Huy động vốn: là hoạt động trong đó Quỹ Đầu tư phát triển địa phương thực hiện huy động các nguồn vốn trung và dài hạn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư cho các đối tượng dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội.
Các hình thức huy động nguồn vốn, gồm: phát hành trái phiếu; vay của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thông qua hợp đồng vay vốn; các hình thức huy động khác theo quy định của pháp luật như: nguồn vốn góp ban dau của các tô chức, nguồn tài trợ từ thiện. Giới hạn huy động vốn tối đa bằng 6 lần vốn chủ sở hữu của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương. Dau tư trực tiếp: là hoạt động trong đó Quỹ Dau tư phát triển địa phương sử dụng nguồn vốn hoạt động của mình dé đầu tư trực tiếp vào các dự án, góp vốn thành lập các tô chức kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực phát triển kết câu ha tang kinh tế - xã hội. Nguồn vốn sử dụng vào đầu tư trực tiếp bao gồm: nguồn vốn điều lệ của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương (do ngân sách địa phương cấp) và nguồn vốn huy động của Quỹ.
Điều kiện tiên quyết nhất dé thực hiện đầu tư trực tiếp là dự án phải có hiệu quả, có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và phù hợp với chương trình, mục tiêu, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương. Việc tiễn hành hoạt động đầu tư trực tiếp phải tuân theo chu trình, bao gồm các giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư (nghiên cứu cơ hội dau tư; nghiên cứu tiền khả thi, khả thi; thấm định dé ra quyết định đầu tư) -> Thực hiện đầu tư (xin giao đất hoặc thuê đất, xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên), thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng, đàm phán ký kết các hợp đồng, thiết kế và lập dự toán, thi công, lắp đặt, thử nghiệm.) - Vận hành kết quả đầu tư.