Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE CÁC HIỆP ĐỊNH FTA MÀ VIET NAM LA THÀNH VIÊN VÀ NỘI DUNG PHAP LY VE ĐẦU TƯ TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH ĐÓ 1. Tổng quan về các Hiệp định FTA mà Việt Nam là thành viên 1. Bối cảnh ra đời của các Hiệp định FTA mà Việt Nam là thành viên Toàn cầu hoá, hội nhập kinh té quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thé nôi bật của kinh tế thé giới đương dai. Từ năm 1986 Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đây mạnh hội nhập quốc tế với phương châm “da phương hod, da dạng hoá quan hệ quốc té” theo Nghị quyết số 07- NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế và Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/04/2013 của Ban Chấp hành trung ương về hội nhập quốc tế.
Với định hướng đó, thời gian qua Việt Nam luôn chủ động hội nhập quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế cũng như khu vực và trở thành đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế. Thực hiện chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, khăng định quyết tâm đổi mới cơ cấu kinh tế và cải thiện môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư, mở rộng hơn nữa thị trường cho hàng xuất khẩu, trong thời gian vừa qua các nỗ lực hội nhập kinh tế của Việt Nam đã được thúc đây trên cả ba phương diện: đa phương, khu vực và song phương, như tham gia Tổ chức thương mại thế giới, tham gia các hiệp định thương mại tự do,. Sau 30 năm tiễn hành đổi mới, Việt Nam đã chuyển dan từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường. Trong quá trình này, Việt Nam đạt được các thành tựu không nhỏ về tăng trưởng kinh té, thuong mai, thu hut dau tu, cai thiện mức sống dan cư và xóa đói giảm nghèo.
Theo đó, một lần nữa khang định Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế một cách sâu rộng hon là hoàn toàn phù hop với: (i) Đường lối chính sách của Đảng: (ii) Chiến lược phát triển kinh tế xã hội và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Đó thực sự là cơ sở quan trong để Việt Nam tích cực tham gia vào các FTA. Năm 2007, với việc gia nhập WTO đã đánh dấu mốc quan trọng trên chặng đường hội nhập của nước ta. Bước vào cuộc chơi WTO mở ra cho Việt Nam cơ hội dé chuyển mình và phát triển.
Thế nhưng WTO không thé đáp ứng nhu cầu của các quốc gia trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ. Người ta cho rằng cái áo mà WTO may ở thời điểm đó (năm 1995) đến nay đã trở nên quá chật chội đối với thương mại quốc tế, cho nên người ta muốn tìm kiếm thỏa thuận khu vực va song phương thông qua các FTA’. Hội nhập kinh tế quốc tế không chi tác động đến nền kinh tế của mỗi quốc gia ma còn giúp nâng cao môi quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa các quốc gia, khu vực. Trong tiến trình đó, không thé bỏ qua những khó khăn, hạn chế từ việc mở cửa nhưng cũng không thể phủ nhận những tác động tích cực trong việc mở rộng thị trường, thu hút vốn đầu tư, công nghệ sản xuất hay dịch vụ hiện đại, kinh nghiệm quản lý.
từ làn sóng đầu tư nước ngoài. Dưới góc độ nào đó, việc mở cửa thị trường cũng góp phan thúc day khả năng phát triển cho các doanh nghiệp nội địa của Việt Nam, mang lại động lực cải cách thé chế, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh đồng thời tăng cường quan hệ ngoại giao.