Tổng quan luận án
Vấn đề mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân giữ vị trí trung tâm trong đời sống chính trị và khoa học pháp lý. Việc thiết lập cơ chế pháp lý nhằm thúc đẩy, hoàn thiện mối quan hệ này là đòi hỏi tất yếu cả về phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn. Đề tài luận án tiến sĩ luật học "Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam" được xác định tính cấp thiết dựa trên năm căn cứ chính:
- Yêu cầu về tính chính đáng của Nhà nước trong trật tự Nhà nước pháp quyền: Xã hội hiện đại đánh dấu sự chuyển dịch từ mô hình cai trị, điều hành sang mô hình Nhà nước phục vụ, kiến tạo và phát triển. Nhà nước xác lập mối quan hệ bình đẳng, tương hỗ, đồng trách nhiệm với công dân trước pháp luật, đòi hỏi phải có chế độ pháp lý đầy đủ ràng buộc trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền công dân.
- Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền con người: Quá trình hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đòi hỏi thượng tôn pháp luật và thiết lập cơ chế bảo hộ nhằm kiến tạo môi trường cho người dân chủ động thực thi, bảo vệ các quyền cơ bản.
- Chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo hộ pháp lý đối với công dân: Các văn kiện chính trị như Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã trực tiếp đặt ra yêu cầu hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước.
- Tư tưởng lập hiến trong Hiến pháp năm 2013: Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại Chương II, đồng thời quy định trực tiếp vấn đề bảo hộ tại 10 điều khoản khác nhau liên quan đến quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền sở hữu tư nhân và thừa kế, quyền về hôn nhân và gia đình, quyền sử dụng đất.
- Khoảng trống về nhận thức, lý luận và thực tiễn: Nhận thức truyền thống tại Việt Nam thường chỉ giới hạn khái niệm "bảo hộ công dân" trong phạm vi bảo hộ ngoại giao, lãnh sự ở nước ngoài mà chưa chú trọng bảo hộ công dân trong nước. Việc bảo vệ quyền công dân trong nước còn mang tính thụ động; giới nghiên cứu chủ yếu tập trung vào "bảo vệ" hoặc "bảo đảm" mà thiếu vắng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về "bảo hộ".
Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân (CCPLBHCD) ở Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thứ nhất, nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về CCPLBHCD trong trật tự Nhà nước pháp quyền.
- Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn vận hành CCPLBHCD ở Việt Nam hiện nay.
- Thứ ba, đề xuất và luận chứng các giải pháp xây dựng, hoàn thiện CCPLBHCD ở Việt Nam hiện nay.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu:
- CCPLBHCD là gì? Bản chất và vai trò của nó trong mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân trong trật tự Nhà nước pháp quyền?
- Đặc điểm các quyền cơ bản của công dân và giới hạn bảo hộ pháp lý đối với các quyền cơ bản của công dân được thực hiện như thế nào?
- Tố quyền là gì? Bản chất và vai trò của nó trong CCPLBHCD?
- Nội dung của CCPLBHCD (các hình thức và mức độ thể hiện)?
- Thực trạng CCPLBHCD ở Việt Nam hiện nay?
- Những yêu cầu và điều kiện nào đặt ra cho việc xây dựng và hoàn thiện CCPLBHCD ở Việt Nam?
Giả thuyết nghiên cứu:
- Về lý luận: Bảo hộ công dân và CCPLBHCD là kết quả tất yếu của quá trình vận động lịch sử trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, là bước phát triển tiếp theo trong tương quan với các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Việc làm sáng tỏ khái niệm khoa học về bảo hộ công dân trong nước và CCPLBHCD là cơ sở giải quyết các vấn đề lý luận tiếp theo.
- Về thực tiễn: Mặc dù đã được khẳng định trong các bản Hiến pháp, thực tiễn bảo hộ công dân ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế, bất cập về quy định pháp luật và vận hành, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của trật tự Nhà nước pháp quyền.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, tư tưởng về bảo hộ công dân và CCPLBHCD, kinh nghiệm quốc tế; các quy định pháp luật và thực tiễn vận hành CCPLBHCD ở Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu bảo hộ công dân theo nghĩa hẹp (bảo hộ khi có nguy cơ xâm hại, cản trở việc hưởng và thực thi quyền nhằm ngăn chặn, xử lý vi phạm, thúc đẩy và bảo vệ công dân).
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu tại Việt Nam kết hợp nghiên cứu so sánh quốc tế (đồng đại); thời gian nghiên cứu tập trung từ năm 1992 đến nay, đặc biệt từ sau Hiến pháp năm 2013, có kết hợp so sánh lịch sử lập hiến (lịch đại) từ Hiến pháp năm 1946.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các nhóm công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo từng nhánh nội dung:
- Nhóm nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân và cơ chế bảo đảm, bảo vệ: Tiêu biểu có công trình của Phạm Khiêm Ích và Hoàng Văn Hảo (1995), các công trình và giáo trình do GS. Võ Khánh Vinh chủ biên (2010, 2011), giáo trình của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2009). Nhóm nghiên cứu về quan hệ Nhà nước - công dân gồm Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX 07-16 do GS. Hoàng Văn Hảo làm chủ nhiệm thuộc Chương trình KX 07 (GS. Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm), nghiên cứu của Nguyễn Văn Động, Đề tài cấp Bộ do Phạm Hữu Nghị chủ nhiệm (2010), và luận án tiến sĩ của Trần Văn Bách (2003). Các công trình này phân tích địa vị pháp lý, lịch sử lập hiến nhưng chưa tiếp cận dưới góc độ tổng thể của CCPLBHCD.
- Nhóm nghiên cứu về tư tưởng bảo hộ pháp lý đối với công dân của học giả Đức: Các tác phẩm của Badus, Grezeszick, Wienhues (2007), Isensee và Kirchhof (2011), Hartmut Mauerer (2007), cùng các phân tích về Luật Cơ bản (Grundgesetz 1949) của Đức. Nhóm tài liệu này chỉ rõ bảo hộ pháp lý là việc bảo đảm các con đường tiếp cận công lý cho công dân, xác lập cấu trúc bảo hộ gồm hai lớp: lớp sơ cấp (tài phán hành chính, xã hội, thuế) và lớp thứ cấp (trách nhiệm bồi thường nhà nước, tài phán hiến pháp).
- Nhóm học thuyết về tính chính đáng và quản trị nhà nước: Lý thuyết về tính chính đáng của Max Weber (phân chia thành ba loại: tính chính đáng mang màu sắc thế tục, tính chính đáng dựa trên sự ngưỡng mộ cá nhân, và tính chính đáng hợp lý dựa trên nguyên tắc lý tính); quan niệm của F. Rossollillo (1982) về tính chính đáng xuất phát từ sự ủng hộ của cộng đồng đối với lợi ích chung do Nhà nước đại diện; tiêu chuẩn "quản trị tốt" (good governance) theo Nghị quyết số 2000/64 của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc gồm 5 thuộc tính (minh bạch, trách nhiệm, dự báo trước, tham gia, đáp ứng); cùng các Báo cáo Phát triển con người thường niên của UNDP (khởi xướng từ năm 1990) và hệ thống chỉ số phát triển con người của Liên Hợp Quốc.
- Nhóm nghiên cứu về khái niệm bảo hộ và cơ chế pháp lý: Tài liệu luật quốc tế của Nguyên Khôi (2012) phân định bảo hộ công dân theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp; nghiên cứu của PGS. Nguyễn Thị Việt Hương (2013-2014) về cơ chế pháp lý thực thi dân chủ trực tiếp; định nghĩa cơ chế trong Từ điển tiếng Việt và Le Petit Larousse (1999).
- Nhóm nghiên cứu về tố quyền và các thiết chế tài phán: Các nghiên cứu của Serge Guinchard và Frédérique Ferrand (2006), Raymond Guillien và Jean Vincent (2001), Trần Đức Thành (2011), Trần Anh Tuấn (2008), Trần Thúc Linh (1964), Vũ Thư (2013); các công trình về tài phán hiến pháp và tài phán hành chính của GS. Đào Trí Úc và PGS. Nguyễn Như Phát (2007, 2010); nghiên cứu cơ chế bảo hiến của Đặng Văn Chiến (2005); nghiên cứu về bồi thường nhà nước của Phạm Hữu Nghị; công tác dân nguyện của Bùi Nguyên Khánh (2007), Đinh Ngọc Vượng và Nguyễn Như Phát (2007); vai trò tư pháp bảo vệ quyền con người của Trương Thị Thùy Dung (2011, 2014); bảo đảm quyền tự do cá nhân của Trần Thanh Hương (2004).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết:
Khoa học pháp lý Việt Nam trước đây chưa có công trình nghiên cứu hệ thống, trực tiếp và toàn diện về bảo hộ công dân trong nước và CCPLBHCD. Các nghiên cứu hiện hữu chỉ tiếp cận từng khía cạnh đơn lẻ (bảo đảm, bảo vệ, bồi thường nhà nước, khiếu nại, tố cáo, bảo hiến) hoặc tiếp cận từ ý chí chủ quan của cơ quan công quyền. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách tiếp cận từ chủ thể hưởng quyền, đặt trọng tâm vào vai trò chủ động của công dân (thông qua tố quyền), đồng thời làm rõ trách nhiệm chính trị - pháp lý chủ động của Nhà nước trong việc thiết lập cấu trúc bảo hộ hai lớp theo trật tự Nhà nước pháp quyền.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án kế thừa và vận dụng hệ thống các lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết về chủ quyền nhân dân, quyền tự nhiên và khế ước xã hội của J. Rousseau, lý thuyết giới hạn quyền lực của John Locke, lý thuyết kiểm soát quyền lực và chủ nghĩa hợp hiến.
- Lý thuyết về tính chính đáng của Nhà nước (M. Weber, F. Rossollillo) và nguyên tắc tổ chức quyền lực trong trật tự Nhà nước pháp quyền.
- Lý thuyết quản trị tốt (Good Governance) của Liên Hợp Quốc và khung tiêu chuẩn phát triển con người, an ninh con người của UNDP.
- Lý thuyết về bảo hộ pháp lý đối với công dân của khoa học pháp lý Đức, nhấn mạnh quyền tiếp cận công lý và cấu trúc bảo vệ đa tầng nấc.
Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, quán triệt các chủ trương chính trị - pháp lý của Đảng và Nhà nước Việt Nam (Chỉ thị số 12/CT-TW ngày 12/7/1992, Cương lĩnh năm 2011, Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005).
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, đa ngành và liên ngành: Kết hợp luật học với khoa học chính trị, xã hội học và lịch sử nhằm làm rõ bản chất chính trị, xã hội, pháp lý của cơ chế bảo hộ.
- Phương pháp nghiên cứu trực tiếp: Thực hiện khảo sát nhận thức về CCPLBHCD, trao đổi trực tiếp với các nhà lập pháp, chuyên gia nghiên cứu và cán bộ làm công tác thực tiễn.
- Phương pháp nghiên cứu gián tiếp: Phân tích, tổng hợp tư liệu thứ cấp và sơ cấp (văn kiện pháp lý quốc tế, các bản Hiến pháp Việt Nam và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật).
- Phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn: Sử dụng xuyên suốt để đối chiếu quy định pháp luật với thực tế vận hành, tạo cơ sở thực nghiệm cho các đề xuất giải pháp.
- Phương pháp lịch sử (lịch đại) và luật học so sánh (đồng đại): So sánh các giai đoạn phát triển quyền công dân, so sánh quy định qua các bản Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2013) và đối chiếu với kinh nghiệm lập hiến quốc tế (Cộng hòa Liên bang Đức, Ba Lan).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu và các vấn đề liên quan đến luận án
Chương 1 tập trung điểm luận toàn diện các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quyền con người, quyền công dân, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, tư tưởng bảo hộ pháp lý, tính chính đáng của Nhà nước, quản trị tốt, khái niệm bảo hộ và hệ thống tố quyền. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước tại Việt Nam chưa định vị bảo hộ công dân trong nước như một cơ chế pháp lý độc lập, hoàn chỉnh. Chương này xác định rõ 6 câu hỏi nghiên cứu, 2 giả thuyết nghiên cứu (lý luận và thực tiễn), 3 hướng tiếp cận (hệ thống, liên ngành, lịch sử), đồng thời khẳng định tính cần thiết của việc xây dựng khung lý luận về CCPLBHCD.
Chương 2: Cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý bảo hộ công dân
Chương 2 luận giải các vấn đề lý thuyết nền tảng của đề tài:
- Quan niệm và các giai đoạn phát triển của quan hệ Nhà nước - công dân: Mối quan hệ được xác lập trên ba nội dung: Nhà nước quy định quyền, nghĩa vụ bằng pháp luật; công dân có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật; Nhà nước có quyền xử lý hành vi vi phạm đồng thời có trách nhiệm bảo hộ quyền, lợi ích của công dân cả trong và ngoài nước. Quan hệ này phát triển qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn Cách mạng tư sản - thời kỳ Khai sáng: Mục tiêu ghi nhận và bảo vệ quyền, quyền công dân đóng vai trò là "quyền phòng vệ", "quyền đối kháng" chống lại sự lạm quyền của Nhà nước.
- Giai đoạn phát triển quyền kinh tế, văn hóa, xã hội: Nhà nước chuyển sang vai trò tích cực hơn trong việc bảo đảm các điều kiện thực thi quyền.
- Giai đoạn Nhà nước pháp quyền hiện đại: Trách nhiệm bảo hộ của Nhà nước mang tính chủ động, toàn diện, xuất phát từ tính chính đáng và các tiêu chuẩn quản trị tốt.
- Khái niệm và cấu trúc CCPLBHCD:
- Theo nghĩa rộng: Trách nhiệm chính trị - pháp lý của Nhà nước trong việc thúc đẩy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời bảo vệ khi có sự đe dọa, cản trở, xâm hại (thực hiện ngay cả khi chưa có hành vi vi phạm).
- Theo nghĩa hẹp: Trách nhiệm chính trị - pháp lý của Nhà nước trong việc tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thúc đẩy, giúp đỡ và bảo vệ công dân khi quyền và lợi ích hợp pháp bị đe dọa, cản trở hoặc xâm hại.
- Ba yếu tố cấu thành: Thể chế bảo hộ (nguyên tắc, quy định pháp luật), Thiết chế bảo hộ (bộ máy cơ quan công quyền, trọng tâm là tòa án), Phương thức bảo hộ (công cụ, biện pháp pháp lý, trọng tâm là tố quyền).
- Cấu trúc hai lớp bảo hộ pháp lý:
- Lớp thứ nhất (nguyên phát/sơ cấp): Hệ thống biện pháp pháp lý bảo vệ công dân trước quyết định, hành vi công quyền thông qua tài phán hành chính, tài phán xã hội, tài phán nghĩa vụ tài chính và thuế, mở rộng tố quyền thông thường.
- Lớp thứ hai (thứ phát/thứ cấp): Vận hành khi lớp sơ cấp không đạt hiệu quả, bao gồm cơ chế trách nhiệm bồi thường nhà nước, cơ chế tài phán hiến pháp và thiết chế dân nguyện.
Bảng tổng hợp phân biệt ba khái niệm theo luận án:
| Tiêu chí phân biệt |
Bảo đảm quyền |
Bảo vệ quyền |
Bảo hộ quyền (nghĩa rộng) |
| Bản chất |
Trách nhiệm pháp lý trong việc giữ gìn, thúc đẩy, tạo điều kiện để thực hiện quyền |
Trách nhiệm pháp lý trong việc ngăn chặn, chống lại hành vi xâm hại quyền |
Trách nhiệm chính trị - pháp lý mang tính chủ động, toàn diện xuất phát từ tính chính đáng của Nhà nước |
| Phương thức |
Thiết lập cơ chế hỗ trợ, duy trì điều kiện thụ hưởng |
Tạo hành lang pháp lý, loại bỏ vi phạm, bồi thường, khôi phục tình trạng ban đầu |
Thiết lập hai lớp bảo hộ (sơ cấp và thứ cấp) với hạt nhân là hệ thống tố quyền |
| Cơ sở áp dụng |
Nhu cầu và nhận thức về quyền con người, quyền công dân |
Nảy sinh trực tiếp trên cơ sở tố quyền khi có hành vi vi phạm xảy ra |
Nảy sinh khi có nguy cơ cản trở/xâm hại hoặc yêu cầu thúc đẩy; thực hiện ngay cả khi không có yêu cầu |
| Cơ quan thẩm quyền |
Hệ thống cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) |
Hệ thống cơ quan nhà nước với vai trò truyền thống của Tòa án |
Toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước; đặc thù có thiết chế bồi thường nhà nước và tài phán hiến pháp |
| Ý nghĩa |
Tiếp cận từ phía Nhà nước, phụ thuộc ý chí và năng lực của Nhà nước |
Tiếp cận từ phía Nhà nước, phụ thuộc thái độ chủ quan của Nhà nước |
Tiếp cận từ chủ thể hưởng quyền, trao công cụ tự bảo vệ và kết nối mọi hình thức phản kháng hợp pháp |
- Tám đặc điểm của CCPLBHCD: (1) Gắn liền và được điều chỉnh bằng pháp luật, nền tảng tối cao là Hiến pháp; (2) Thực hiện bằng hệ thống thiết chế đa dạng với vai trò trung tâm của tư pháp và tài phán hiến pháp; (3) Tố quyền là hạt nhân của cơ chế; (4) Thiết lập hai lớp bảo vệ đặc thù; (5) Đối tượng bảo hộ là quyền công dân, trước hết là quyền cơ bản; (6) Chủ thể chính là Nhà nước và công dân; (7) Điều kiện vận hành mang tính chủ động, áp dụng cả khi không có yêu cầu hoặc ngoài thẩm quyền tài phán thông thường; (8) Giới hạn can thiệp và trách nhiệm được xác định chặt chẽ bởi Hiến pháp và các chuẩn mực nhân quyền quốc tế.
Chương 3: Thực trạng cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam
Chương 3 phân tích thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động thực tế của bộ máy nhà nước Việt Nam trong việc bảo hộ công dân:
- Về thể chế: Đánh giá quá trình thể chế hóa quyền công dân qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 (với 10 điều khoản hiến định trực tiếp về bảo hộ quyền). Phân tích sự thiếu đồng bộ giữa quy định nghĩa vụ của công dân và nghĩa vụ bảo hộ của Nhà nước.
- Về thiết chế và phương thức vận hành: Đánh giá thực trạng hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan hành chính; thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, hoạt động trợ giúp pháp lý và công tác dân nguyện của Quốc hội (Ban Dân nguyện).
- Hạn chế, bất cập: Thiếu vắng cơ quan chuyên trách tài phán hiến pháp theo tinh thần khoản 2 Điều 119 Hiến pháp năm 2013; hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính còn hạn chế; tố quyền của công dân chưa được quy định minh định, đồng bộ; nhận thức của cán bộ công quyền về nghĩa vụ bảo hộ chủ động chưa đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền.
Chương 4: Quan điểm, giải pháp xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam
Chương 4 đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp:
- Quan điểm chỉ đạo: Quán triệt nguyên tắc chủ quyền nhân dân, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; chuyển đổi nhận thức từ bảo vệ thụ động sang bảo hộ chủ động; phát huy vai trò chủ thể của người dân.
- Giải pháp hoàn thiện thể chế: Cụ thể hóa các quyền hiến định trong Hiến pháp năm 2013; hoàn thiện quy định về giới hạn quyền theo chuẩn mực quốc tế; minh định hóa hệ thống tố quyền tư pháp và hành chính.
- Giải pháp hoàn thiện thiết chế và phương thức: Xây dựng mô hình tài phán hiến pháp tại Việt Nam; nâng cao vị thế và hiệu quả của thiết chế dân nguyện (hướng tới mô hình Ủy ban Dân nguyện thuộc Quốc hội); hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước; nâng cao năng lực xét xử độc lập của hệ thống Tòa án nhân dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận giải tính lịch sử và tất yếu của bảo hộ công dân: Thông qua tiếp cận lịch đại và đồng đại, luận án chứng minh yêu cầu bảo hộ công dân là nấc thang phát triển tất yếu trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, phản ánh sự chuyển đổi từ mô hình Nhà nước cai trị sang Nhà nước pháp quyền phục vụ và kiến tạo.
- Làm sáng tỏ hệ thống khái niệm khoa học: Định nghĩa chuẩn xác khái niệm bảo hộ công dân (theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp) và CCPLBHCD trong nước; phân biệt rành mạch giữa bảo hộ trong nước với bảo hộ ngoại giao/lãnh sự; phân biệt giữa cơ chế bảo hộ pháp lý và phi pháp lý; phân biệt bản chất, phương thức, cơ sở áp dụng giữa ba cơ chế: "bảo đảm", "bảo vệ" và "bảo hộ".
- Xác lập cấu trúc hai lớp bảo hộ và vị trí hạt nhân của tố quyền: Luận giải cấu trúc CCPLBHCD gồm lớp bảo hộ nguyên phát (sơ cấp) và lớp bảo hộ thứ phát (thứ cấp gồm tài phán hiến pháp, bồi thường nhà nước, dân nguyện); khẳng định tố quyền là công cụ tự phòng vệ pháp lý của người dân.
- Làm sâu sắc thêm lý thuyết quyền con người và tính chính đáng: Kết hợp lý thuyết tính chính đáng của Nhà nước (M. Weber, F. Rossollillo) với các chuẩn mực an ninh con người và chỉ số phát triển con người của UNDP để luận chứng cho trách nhiệm chính trị - pháp lý chủ động của Nhà nước.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp
- Phân tích có hệ thống thực trạng các quy định pháp luật và vận hành thực tế của CCPLBHCD tại Việt Nam từ năm 1992 đến sau Hiến pháp năm 2013.
- Lý giải nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong hoạt động bảo hộ pháp lý ở nước ta hiện nay.
- Cung cấp hệ thống giải pháp toàn diện về lập hiến, lập pháp, cải cách tư pháp và đổi mới thiết chế dân nguyện nhằm xây dựng, hoàn thiện CCPLBHCD trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Về phạm vi nghiên cứu, luận án chủ yếu tập trung khai thác CCPLBHCD theo nghĩa hẹp (bảo hộ khi có nguy cơ, cản trở, xâm phạm quyền) và tập trung vào các khía cạnh bảo hộ pháp lý trong nước. Các khía cạnh phi pháp lý hoặc bảo hộ theo nghĩa rộng (chăm lo, hỗ trợ toàn diện khi không có vi phạm) chưa được triển khai thành các chương chuyên sâu.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu sâu mô hình thiết chế tài phán hiến pháp chuyên trách tại Việt Nam nhằm thực thi khoản 2 Điều 119 Hiến pháp năm 2013.
- Nghiên cứu thực nghiệm về quy trình chuyển đổi Ban Dân nguyện thành Ủy ban Dân nguyện của Quốc hội.
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo hộ công dân theo nghĩa rộng trong điều kiện phát triển kinh tế số và hội nhập quốc tế toàn diện.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật, Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, và chuyên ngành Quyền con người.
- Đối với hoạt động lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học cho Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tố tụng hành chính và hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp.
- Đối với các cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật: Giúp cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, đặc biệt là Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan hành chính và tổ chức trợ giúp pháp lý nâng cao nhận thức về nghĩa vụ bảo hộ chủ động đối với công dân.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "bảo hộ công dân" theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như thế nào?
Theo nghĩa rộng, bảo hộ công dân là trách nhiệm chính trị - pháp lý của Nhà nước trong việc thúc đẩy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời bảo vệ khi có sự đe dọa, cản trở hoặc xâm hại (thực hiện ngay cả khi không có sự xâm hại). Theo nghĩa hẹp, bảo hộ công dân là trách nhiệm chính trị - pháp lý của Nhà nước trong việc tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thúc đẩy, giúp đỡ và bảo vệ công dân khi các quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị đe dọa, cản trở hoặc xâm hại.
2. Hai lớp bảo hộ trong cấu trúc cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân gồm những gì?
- Lớp bảo hộ thứ nhất (phương thức nguyên phát/sơ cấp): Hệ thống các biện pháp pháp lý nhằm bảo vệ công dân trước quyết định, hành vi công quyền thông qua thủ tục tài phán hành chính, tài phán xã hội, tài phán nghĩa vụ tài chính và thuế.
- Lớp bảo hộ thứ hai (phương thức thứ phát/thứ cấp): Vận hành khi lớp sơ cấp không đạt hiệu quả hoặc không thể thực hiện, gồm ba trụ cột: pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước, cơ chế tài phán hiến pháp và thiết chế dân nguyện.
3. Tố quyền giữ vai trò gì trong cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân?
Tố quyền được xác định là "hạt nhân" của CCPLBHCD. Tố quyền là khả năng được pháp luật thừa nhận cho cá nhân yêu cầu sự can thiệp của công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền, lợi ích chính đáng hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước. Tố quyền chuyển hóa công dân từ vị thế thụ động sang chủ thể chủ động tự phòng vệ trước các hành vi xâm phạm.
4. Luận án sử dụng những học thuyết quốc tế nào để luận giải tính chính đáng của trách nhiệm bảo hộ?
Luận án sử dụng: (i) Lý thuyết về ba loại tính chính đáng của Nhà nước theo Max Weber (thế tục, cá nhân, hợp lý); (ii) Định nghĩa tính chính đáng của F. Rossollillo (1982); (iii) Khung thuộc tính của "quản trị tốt" (good governance) theo Nghị quyết 2000/64 của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc; (iv) Khung tiêu chí phát triển con người trong các Báo cáo Phát triển con người thường niên của UNDP.
5. Hiến pháp năm 2013 quy định trực tiếp về vấn đề bảo hộ ở những nội dung nào?
Hiến pháp năm 2013 quy định trực tiếp về bảo hộ tại 10 điều khoản khác nhau, tập trung vào: quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế, quyền về hôn nhân và gia đình, cùng quyền sử dụng đất.
Kết luận
Luận án "Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam" là công trình nghiên cứu hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hộ công dân trong nước dưới góc độ luật học. Công trình đã làm rõ bản chất mối quan hệ chính trị - pháp lý giữa Nhà nước và công dân trong Nhà nước pháp quyền, xác lập cấu trúc bảo hộ hai lớp với hạt nhân là hệ thống tố quyền. Dựa trên việc phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành từ năm 1992 đến sau Hiến pháp năm 2013, luận án đã đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ về thể chế, thiết chế tài phán và dân nguyện, đóng góp cơ sở khoa học phục vụ công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.