CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân, lịch sử, nguồn gốc và bản chất mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân Có thể tìm thấy rất nhiều tài liệu liên quan đến vấn đề này, bao gồm hai nhóm: (1) Nhóm các tài liệu nghiên cứu về quyền con người và cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người nói chung; (2) Nhóm các tài liệu nghiên cứu về quyền công dân và mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân. Các tài liệu nghiên cứu về quyền con người và cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người nói chung: gồm các công trình tiêu biểu như: “Quyền con người trong thế giới hiện đại” – Phạm Khiêm Ích, Hoàng Văn Hảo chủ biên.
Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội 1995; “Quyền con người – Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học” – GS.Võ Khánh Vinh chủ biên, NXB KHXH, Hà Nội 2010 (3 tập); “Quyền con người” (Giáo trình Giảng dạy sau đại học) – GS. Võ Khánh Vinh chủ biên, NXB KHXH 2011; Sách chuyên khảo “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người” – GS.Võ Khánh Vinh chủ biên, NXB KHXH 2011; Giáo trình “Lý luận và pháp luật về Quyền con người”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009, NXB CTQG. Các tài liệu nghiên cứu về quyền công dân và mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân: những công trình tiêu biểu được Luận án tham khảo có thể kể tới: Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX 07-16: “Các điều kiện đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong công cuộc đổi mới đất nước” do GS. Hoàng Văn Hảo chủ nhiệm trong chương trình công nghệ cấp nhà nước KX 07 “Con người – Mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội” do GS.
Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm; Nguyễn Văn Động. “Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam”. Sách chuyên khảo. “Quyền lực nhà nước và quyền công dân”.
Phạm Hữu Nghị chủ nhiệm đề tài cấp Bộ: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tổ chức thực hiện 8 Luận án tiến sĩ luật học và kiểm soát quyền lực nhà nước trong quá trình xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam”. Viện Nhà nước và Pháp luật – Viện KHXHVN, Hà Nội 2010; Trần Văn Bách. “Sự phát triển chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam”. Luận án tiến sĩ luật học.
Viện Nhà nước và pháp luật. 2003… Nhìn chung, các công trình chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề quyền con người, quyền công dân, nội dung và sự phát triển của quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực, qua các thời kỳ, phân tích một cách bao quát mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, đồng thời đưa ra những kiến nghị liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài. Song chưa có một công trình nào có tính bao quát với góc độ tiếp cận từ CCPLBHCD ở Việt Nam.Việc đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu này cho phép Luận án đi đến các kết luận sau: Một là, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân là mối quan hệ chính trị - pháp lý, có lịch sử phát triển tất yếu qua các giai đoạn phát triển. Hai là, cũng như quyền con người, quyền công dân cũng có các thế hệ quyền tương ứng với ba giai đoạn phát triển của mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong lịch sử.
Sự phát triển này dẫn đến những yêu cầu ngày càng cao về trách nhiệm của Nhà nước đối với các quyền công dân phù hợp với sự phát triển của xã hội theo hướng ngày một văn minh, hiện đại, vì con người. Ba là, quyền con người và quyền công dân có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng cũng có những ranh giới và dấu hiệu định dạng nhất định. Dấu hiệu phân biệt cơ bản nhất đối với quyền công dân và quyền con người, đó chính là sự gắn bó, ràng buộc về mặt pháp lý của công dân đối với Nhà nước thông qua dấu hiệu quốc tịch. Và do đó, quyền công dân được ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ trước hết bằng Hiến pháp – văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất của quốc gia.
Các công trình nghiên cứu về tư tưởng về bảo hộ pháp lý đối với công dân Liên quan đến tư tưởng về bảo hộ pháp lý đối với công dân ở nhóm các quốc gia quy định cơ chế bảo hộ pháp lý trong Hiến pháp (ví dụ: Ba Lan, Đức), có thể tìm thấy các nghiên cứu của các học giả Đức. Các nghiên cứu này cho thấy: có sự thống nhất khẳng định chế độ bảo hộ pháp lý đối với công dân là một trong những nguyên tắc nền tảng của Nhà nước pháp quyền, nhấn mạnh đến nghĩa vụ bảo hộ pháp lý của 9 Luận án tiến sĩ luật học Nhà nước đối với các quyền cơ bản của công dân [105]. Các tác giả còn cho rằng, thiếu nền tảng hiến định này, nhiều yêu cầu của NNPQ sẽ không thể thực hiện được như: quyền cơ bản của công dân, trách nhiệm BTNN, các cơ quan Nhà nước chỉ hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, an toàn pháp lý. Một nội dung đáng quan tâm trong các nghiên cứu này là việc đánh giá, phân tích quyền cơ bản của công dân trên các phương diện: Ý nghĩa, hình thức, các khía cạnh pháp lý, chủ thể, nội dung và những giới hạn quyền cơ bản của công dân.[104] Tuy nhiên, từ phương diện tiếp cận khoa học pháp lý quốc gia, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp và thấu đáo về BHCD ở Việt Nam và cơ chế pháp lý cho vấn đề này.
Các công trình nghiên cứu về yêu cầu về bảo hộ và cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân Luận giải về yêu cầu về trách nhiệm BHCD của Nhà nước trong thời kỳ hiện đại, có thể tìm thấy khá nhiều học thuyết khác nhau về vai trò của Nhà nước. Trong đó, không thể không kể đến học thuyết về “tính chính đáng của Nhà nước”. Tính chính đáng của Nhà nước được phát triển theo chiều dài lịch sử. Theo nhà xã hội học và chính trị học người Đức M.Weber thì có ba loại chính: sự chính đáng mang màu sắc thế tục; sự chính đáng trên cơ sở ngưỡng mộ cá nhân; sự chính đáng hợp lý3 [100].
Ban đầu, trong các giai đoạn xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, tính chính đáng của quyền lực nhà nước hầu hết có được ở dạng thứ nhất (mang màu sắc tập tục truyền thống) hay dạng thứ hai (sự ngưỡng mộ cá nhân). Nhà cầm quyền có được quyền lực của mình thông qua tập ấm, cha truyền con nối, theo các tập tục truyền thống trong xã hội hoặc có được bởi sự ngưỡng mộ cá nhân. Sau thời kỳ Cách mạng tư sản, nền chuyên chế phong kiến bị sụp đổ, nhân loại buộc phải có sự nhìn nhận, đánh giá lại các giá trị truyền thống cũng như thế nào là tính chính đáng của Nhà nước, dẫn đến xuất hiện yêu cầu về tính chính đáng hợp lý của Nhà nước. Ngày nay, yêu cầu về 3 Sự chính đáng hợp lý dựa trên nguyên tắc lý tính, lấy lý trí làm cơ sở đánh giá về măng lực và hiệu quả của quyền lực nhà nước.
Đó là khi dân chúng ủng hộ hay phản ứng chống đối chính quyền xuất phát từ sự hiểu biết của chính họ, sự đánh giá có căn cứ về những gì chính quyền đã và đang làm–M. 10 Luận án tiến sĩ luật học tính chính đáng hợp lý là bắt buộc và đương nhiên được đặt ra cho mọi Nhà nước trong trật tự NNPQ.64] Sự chính đáng, tính chính đáng (Legitimacy-tiếng Anh, Légitimite-tiếng Pháp, Legitimnost-tiếng Nga) là khái niệm chỉ tính hợp pháp nhưng không mang nội dung pháp lý và chủ yếu không nói về mặt pháp lý, thậm chí có trường hợp trái với pháp luật, nhằm biểu thị trạng thái thực chất của quyền lực, không nhất thiết phải được biểu thị bằng văn bản.62] Nhà nghiên cứu người Ý F.Rossollillo đã định nghĩa như sau: [Tính chính đáng-đó là khi các thành viên của tập thể, của cộng đồng ý thức rằng, ngoài các lợi ích riêng tư mà ai cũng có và thường là khác nhau và có khi mâu thuẫn trong một xã hội dân sự thì còn tồn tại những lợi ích chung; Nhà nước là người thể hiện lợi ích chung đó, và khi đó người ta, trong đa số của họ, ủng hộ Nhà nước, các thiết chế của Nhà nước. Trong trường hợp này, họ ý thức được rằng, sự liên kết của họ thành Nhà nước là định hướng chủ đạo duy nhất đúng. Nhờ đó, tính chính đáng và phương cách để khắc phục xung đột xã hội và nội chiến][101] Như vậy, một nhà nước là chính đáng khi trong con mắt của đa số nhân dân, chính quyền nhà nước đó tỏ ra “phù hợp với quan niệm và mong đợi của họ về một chính quyền cần có.
Những cách quan niệm ấy thường không gắn với yếu tố pháp lý, thậm chí ít khi lấy pháp luật làm cơ sở”. Một lý thuyết khác cũng được tham khảo liên quan đến sự luận giải về yêu cầu bảo hộ của Nhà nước đối với công dân, đó là lý thuyết “quản trị tốt” (“good - governance”). Không có định nghĩa duy nhất và đầy đủ của “good-governance”, cũng như không có sự không một phân định phạm vi của nó. Thuật ngữ này được sử dụng một cách linh hoạt.
Có thể tham khảo khái niệm “good - governance” của Ủy ban nhân quyền của UN trong Nghị quyết số 2000/64. Theo đó, những thuộc tính quan trọng của“good - governance” như sau: (i) Minh bạch; (ii) Trách nhiệm; (iii) Dự báo trước; (iv) Tham gia; (v) Đáp ứng (với nhu cầu của người dân). Các Báo cáo Phát triển con người thường niên của UNDP (bắt đầu từ năm 1990) [102] và các chỉ số phát triển con người của Liên Hợp Quốc [40] cũng là những 11 Luận án tiến sĩ luật học tài liệu tham chiếu quan trọng liên quan đến yêu cầu và các tiêu chí BHCD, CCPLBHCD. Chính yêu cầu về tính chính đáng của Nhà nước cũng như lý thuyết “quản trị tốt”, các chỉ số phát triển con người của Liên Hợp Quốc đã cho thấy tính tất yếu trong trách nhiệm bảo hộ của Nhà nước đối với công dân của mình, khi mà các cơ chế trước đây nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân đã không thể đáp ứng hết yêu cầu ngày càng cao của quá trình phát triển dân chủ, văn minh của nhân loại.