CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CHƯƠNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY CHƯƠNG 4.
QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN VÀ ĐỂ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11 CHƯƠNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC 2. Khái quát chung về lao động cưỡng bức 2. Khái niệm lao động cưỡng bức Khái niệm lao động cưỡng bức (LĐCB) được định nghĩa lần đầu tiên trong Công ước về LĐCB 1930 (Công ước 29).1, Công ước 29 định nghĩa về LĐCB và bắt buộc như sau: “mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc phải làm dưới sự đe doạ của một hình phạt nào đó và bản thân người đó không tự nguyện làm”.
Như vậy, theo Công ước 29 thì một hoạt động được coi là LĐCB khi thỏa mãn đồng thời cả ba yếu tố sau: (i) Thứ nhất, một người thực hiện một công việc hoặc một dịch vụ cho người khác; (ii) Thứ hai, người đó không tự nguyện mà bắt buộc phải làm công việc hoặc dịch vụ đó. Sự thiếu tự nguyện của người bị cưỡng bức lao động có thể biểu hiện dưới các dạng như bị bắt cóc, bị buôn bán, bị cầm tù tại nơi làm việc, bị lừa gạt về điều kiện làm việc; (iii) Thứ ba, người thực hiện công việc hoặc dịch vụ đó bị đe dọa sẽ phải chịu một hình phạt nếu không thực hiện công việc hoặc dịch vụ đó. Như vậy yếu tố “ép buộc” và “không tự nguyện” là dấu hiệu cấu thành bắt buộc để xác định nạn nhân, đối tượng của LĐCB. Ép buộc là dùng áp lực, gây sức ép về thể xác hoặc tinh thần để buộc một người phải làm điều người đó không mong muốn.
Không tự nguyện là việc một người bản thân không muốn làm một việc, nhưng vì lý do nào đó họ miễn cưỡng phải làm. Tác giả cho rằng, chỉ cần một trong hai dấu hiệu trên thì đã có thể xem là LĐCB, vì “bị ép buộc” và “không tự nguyện” là các khái niệm khác nhau nhưng có chung nội hàm và nó được diễn ra trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình giao kết hợp đồng. Công ước 29 cũng đưa ra một số ngoại lệ về “LĐCB và bắt buộc” tại Điều 2.2, cụ thể thuật ngữ “LĐCB hoặc bắt buộc” không bao gồm: a) Mọi công việc hoặc dịch vụ buộc phải làm theo các đạo luật về nghĩa vụ quân sự bắt buộc và trong những công việc có tính chất quân sự thuần túy; việc sử dụng LĐCB trong trường hợp này vì mục đích an ninh quốc phòng, ví dụ: đi nghĩa vụ quân sự. 12 Như vậy, nếu sử dụng vì mục đích kinh tế thì không được chấp nhận; b) Mọi công việc hoặc dịch vụ thuộc những nghĩa vụ công dân bình thường của các công dân trong một nước tự quản hoàn toàn; c) Mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người buộc phải làm do một quyết định của tòa án, với điều kiện là công việc hoặc dịch vụ đó phải được tiến hành dưới sự giám sát và kiểm tra của những cơ quan công quyền, và người đó không bị chuyển nhượng hoặc bị đặt dưới quyền sử dụng của những tư nhân, công ty hoặc hiệp hội tư nhân; d) Mọi công việc hoặc dịch vụ buộc phải làm trong những trường hợp khẩn cấp, nghĩa là trong những trường hợp có chiến tranh, xảy ra tai họa hoặc có nguy cơ xảy ra tai họa như cháy, lụt, đói, động đất, dịch bệnh dữ dội của người và gia súc, sự xâm hại của thú vật, côn trùng hoặc ký sinh trùng, và nói chung là mọi tình thế gây nguy hiểm cho đời sống hoặc cho sự bình yên của toàn thể hoặc một phần dân cư; đ) Những công việc của thôn xã vì lợi ích trực tiếp của tập thể và do những thành viên của tập thể đó thực hiện, và vì vậy có thể coi như là những nghĩa vụ công dân bình thường của các thành viên tập thể, với điều kiện là những thành viên trong tập thể đó hoặc những người đại diện trực tiếp của họ có quyền được tham khảo ý kiến về sự cần thiết của những công việc ấy.
Năm 1957, Công ước 105 về xóa bỏ LĐCB đã thêm vào định nghĩa trước đó ngoại lệ hoàn toàn mới là “LĐCB và bắt buộc” không bao gồm “biện pháp cưỡng chế hay giáo dục chính trị, hoặc một sự trừng phạt đối với những ai đang có hoặc đang phát biểu chính kiến; biện pháp huy động và sử dụng nhân công vào mục đích phát triển kinh tế; biện pháp về xử lý vi phạm kỷ luật lao động; sự trừng phạt đối với việc đã tham gia đình công; biện pháp phân biệt đối xử về chủng tộc, xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo”. Theo quy định của Công ước 105 thì định nghĩa trên cũng được sử dụng thống nhất. Khái niệm LĐCB áp dụng cho mọi độ tuổi (gồm người lớn và trẻ em), đồng nghĩa mọi trường hợp Công ước 29 của ILO đều được áp dụng. Tuy nhiên, Công ước 29 của ILO không định nghĩa cụ thể “trẻ em” khi xem xét vấn đề “LĐCB”.
Để xác định trẻ em là đối tượng nào theo quy định ILO, chúng ta cần dẫn chiếu đến Công ước 182 về những điều kiện lao động tồi tệ nhất đối với trẻ 13 em năm 1999. Căn cứ Điều 2 Công ước 182, “trẻ em” là những người dưới 18 tuổi. Trong Công ước 182 còn đưa ra khái niệm về điều kiện lao động tồi tệ nhất gồm việc “tuyển lựa một cách cưỡng bức hoặc bắt buộc trẻ em để tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang”, nhưng không đưa ra thêm bất kỳ một giải thích nào khác về những yếu tố cấu thành “LĐCB đối với trẻ em”. Chính vì vậy, trong trường hợp cần tìm hiểu về “LĐCB đối với trẻ em” là như thế nào thì Công ước 29 của ILO sẽ được dẫn chiếu và áp dụng.
Cũng cần phân biệt thuật ngữ “lao động cưỡng bức” với “cưỡng bức lao động” mặc dù về nội hàm có nhiều điểm giống nhau, đó là đều bao hàm các hành vi cưỡng bức lao động. Tuy nhiên, LĐCB hướng đến các đối tượng là nạn nhân bị “”ép buộc, cưỡng ép” trong việc thực hiện một công việc, dịch vụ nào đó, dưới sự đe dọa bằng các hình phạt. Các công việc hoặc dịch vụ được hiểu là mọi loại hình công việc, dịch vụ, việc làm, không phân biệt ngành nghề, lĩnh vực, việc làm hợp pháp chính thức, hay việc làm bất hợp pháp, không chính thức. Hình phạt cũng không nhất thiết phải dưới các hình thức như chế tài hình sự, mà có thể dưới dạng tước quyền tự do và đặc quyền, hoặc có thể là hình thức đe dọa áp dụng các hình phạt khác nhau (hoặc liên quan đến thân thể, tính mạng, hoặc đánh vào yếu tố tâm lý nhằm đe dọa nạn nhân…).
Còn cưỡng bức lao động hướng tới nhiều hơn việc xác định hành vi vi phạm hoặc hành vi phạm tội cưỡng bức lao động. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, định nghĩa về LĐCB chỉ được đề cập như một sự giải thích về vấn đề “ngược đãi” và “cưỡng bức động”. BLLĐ 1994 mặc dù quy định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động trong trường hợp bị cưỡng bức lao động, và việc bị “ngược đãi, cưỡng bức lao động được giải thích tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động2“… Bị ngược đãi, cưỡng bức lao động là trường hợp NLĐ bị đánh đập, nhục mạ hoặc ép buộc làm những công việc không phù hợp với giới tính, ảnh 2 khoản 1 Điều 11 Nghị Định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động 14 hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người lao động”, trong đó hai cụm từ “ngược đãi” và “cưỡng bức lao động” được giải thích theo hướng đồng nghĩa và đặt trong phạm vi giao kết và thực hiện hợp đồng lao động hơn là một định nghĩa. BLLĐ sửa đổi năm 2012 đã xác định khái niệm CBLĐ là “việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc người khác lao động trái ý muốn của họ” (Khoản 10 Điều 3).
Khái niệm này mặc dù được xây dựng dựa trên khái niệm về LĐCB trong Công ước 29, tuy nhiên nội hàm của khái niệm này khi giải thích yếu tố không tự nguyện là do việc dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, trong khi thực tế có rất nhiều các dạng ép buộc (thủ đoạn khác). Thế nào là “thủ đoạn khác” cũng không được giải thích cụ thể. Bên cạnh đó, thuật ngữ “lao động” trong BLLĐ 2012 cũng giới hạn hoạt động lao động của con người trong việc tạo ra các giá trị vật chất hoặc tinh thần cho xã hội, được pháp luật cho phép. Với cách dùng từ này, có thể dẫn đến việc hiểu LĐCB chỉ xảy ra khi một người phải thực hiện những công việc hợp pháp trái ý muốn của họ, còn những việc bất hợp pháp mà họ phải thực hiện ngoài ý muốn của họ không phải là LĐCB.
Với những dấu hiệu của LĐCB như đã phân tích, tác giả cho rằng, lao động cưỡng bức là “mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc, bắt buộc phải thực hiện bởi sự đe doạ của một hình phạt hoặc thủ đoạn của một tổ chức hoặc cá nhân trong các quan hệ lao động”. Đặc điểm của lao động cưỡng bức Đặc điểm của LĐCB được nhận biết dựa trên hai căn cứ chủ yếu, đó là: 2. Căn cứ vào đối tượng bị LĐCB: Đối tượng bị LĐCB là bất kì ai, bao gồm người trưởng thành cũng như trẻ em, không phân biệt quốc tịch dù là công dân của quốc gia nào. Xét về đặc điểm giới tính: (i) đối với nam giới: LĐCB thường gắn với các công việc nặng nhọc, nguy hiểm và độc hại ở công trường xây dựng, các hầm mỏ, nông nghiệp làm vườn…v.v; (ii) đối với nữ giới: LĐCB chủ yếu là những người làm công 15 việc gia đình, nhà máy, xí nghiệp dệt may hoặc bị cưỡng bức tham gia hoạt động mại dâm…v.
Căn cứ vào các dấu hiệu bị lao động cưỡng bức Có rất nhiều dấu hiệu nhận biết bị lao động cưỡng bức, có thể tập trung trong 10 dấu hiệu cơ bản như sau: Thứ nhất, lạm dụng tình trạng khó khăn của người lao động. Bất kỳ một người nào đều có thể trở thành nạn nhân của cưỡng bức lao động.