Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Khái niệm bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật 1. Khái niệm người khuyết tật Trên thế giới hiện nay có hai quan điểm về vấn đề khuyết tật.
Theo quan điểm thứ nhất, cho rằng khuyết tật là ở chính sự phát triển tự nhiên về thể chất của con người đó, hoặc không quan tâm đến các yếu tố về môi trường xã hội xung quanh họ (mô hình khuyết tật dưới góc độ y tế). Ngược lại, quan điểm thứ hai cho rằng, khuyết tật là một sản phẩm của xã hội, bắt nguồn từ việc môi trường vật thể và môi trường xã hội không đáp ứng được những nhu cầu của từng cá nhân hoặc các nhóm đối tượng cụ thể (mô hình xã hội). Từ hai quan điểm nêu trên, việc phân loại quốc tế về khiếm khuyết, khuyết tật và tàn tật xuất bản đầu tiên vào năm 1980 bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có một sự phân biệt quan trọng giữa khiếm khuyết và hai hình thức khác của tình trạng khiếm khuyết được gọi là khuyết tật và tàn tật [55]. Theo đó, khuyết tật là bất kỳ giới hạn hoặc mất chức năng bắt nguồn từ sự khiếm khuyết làm ngăn cản việc thực hiện một hoạt động trong khoảng thời gian được coi là bình thường của một người; tàn tật là tình thế bất lợi xuất phát từ sự khiếm khuyết hoặc khuyết tật hạn chế thực hiện một vai trò được coi là bình thường đối với tuổi tác, giới tính và các yếu tố xã hội và văn hóa.
Tại Khoản 1, Điều 1 Công ước số 159 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về phục hồi chức năng và việc làm (người khuyết tật) năm 1983 có định nghĩa về người có khuyết tật như sau: "Người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị Luan van giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận" [48]. Theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 13/3/2007: Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [26]. Như vậy, Theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật thì khái niệm người khuyết tật được hiểu là một khái niệm mở, có sự tiến triển theo thời gian và điều kiện xã hội, là kết quả của sự tương tác giữa những người có khiếm khuyết và những rào cản về thái độ và môi trường mà ở đó hạn chế sự tham gia một cách đầy đủ và có hiệu quả vào các hoạt động trên cơ sở bình đẳng với các thành viên khác trong xã hội. Mặc dù, vẫn còn những quan điểm khác nhau về những thuộc tính cấu thành khái niệm "người khuyết tật", tuy nhiên, đây là lần đầu tiên có một định nghĩa về "người khuyết tật" được xác định trong luật nhân quyền quốc tế.
Điều này có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền của người khuyết tật. Ở nước ta, khái niệm về người khuyết tật trước đây chưa có sự thống nhất và tồn tại song song 2 cụm từ "người khuyết tật" và "người tàn tật". Từ năm 2009 thì mới có sự thống nhất gọi chung là "người khuyết tật" trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong các văn bản pháp luật. Theo Luật Người khuyết tật năm 2010 khái niệm người khuyết tật được hiểu là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn [38].
Đây là khái niệm tương đối toàn diện về lao động khuyết tật, khắc phục những bất cập trong khái niệm lao động khuyết tật trước đây. Khái niệm này thuận lợi cho xây dựng các mục tiêu hỗ trợ về mặt vật chất hoặc tài chính cho lao động khuyết tật, hoặc người sử dụng lao động khuyết tật. Điều này mang lại ý nghĩa to lớn, giúp cho việc hoạch định chính sách và thực hiện chính sách đối với lao động khuyết tật được hiệu quả. Như vậy, khái niệm người khuyết tật được xây dựng phụ Luan van thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà luật hoặc các chính sách pháp luật của mỗi nước theo đuổi, tiêu chí xác định khuyết tật, yếu tố văn hóa, điều kiện về kinh tế, xã hội.
Có thể thấy cho đến nay, các nước trên thế giới không có một định nghĩa chung nhất về người khuyết tật. Tuy nhiên, từ phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm người khuyết tật như sau: Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế trong việc tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội trên cơ sở bình đẳng về quyền và nghĩa vụ với những chủ thể khác. Khái niệm quyền làm việc Quyền làm việc hay quyền có việc làm, quyền được làm việc là một yếu tố cơ bản bảo đảm sự tồn tại thực tế của con người, đồng thời bảo đảm nhân phẩm và lòng tự trọng của con người (sống dựa vào năng lực và khả năng của bản thân chứ không dựa dẫm, ỷ lại vào người khác). Quyền làm việc là nhóm quyền cơ bản trong Bộ Luật Lao động và là một trong rất nhiều quyền khác của người lao động.
Quyền được làm việc có vị trí rất quan trọng, vì quyền được làm việc là cốt lõi để thực hiện các quyền con người khác và tạo nên một phần quan trọng không thể tách rời tự nhiên của nhân phẩm. Quyền làm việc chính là tiền đề, điều kiện quan trọng để thực hiện các quyền khác của người lao động nói riêng và các quyền của con người nói chung, như quyền về nhà ở, quyền về giáo dục, văn hoá. Chỉ khi quyền làm việc được đảm bảo thực hiện, thì các quyền khác của con người mới có ý nghĩa. Theo pháp luật quốc tế, tại Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 đã ghi nhận: Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp; Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử; Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác [24].
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 cũng xác định các yếu tố của quyền có việc làm: Các quốc gia thành viên Công ước này thừa Luan van nhận quyền làm việc, trong đó bao gồm quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp nhận, và các quốc gia phải thi hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo quyền này; Các quốc gia thành viên Công ước phải tiến hành các biện pháp để thực hiện đầy đủ quyền này, bao gồm triển khai các chương trình đào tạo kỹ thuật và hướng nghiệp, các chính sách và biện pháp kỹ thuật nhằm đạt tới sự phát triển vững chắc về kinh tế, xã hội và văn hoá, tạo công ăn việc làm đầy đủ và hữu ích với điều kiện đảm bảo các quyền tự do cơ bản về chính trị và kinh tế của từng cá nhân."; "Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt đảm bảo: Thù lao cho tất cả mọi người làm công tối thiểu phải đảm bảo: (i) Tiền lương thoả đáng và tiền công bằng nhau cho những công việc có giá trị như nhau, không có sự phân biệt đối xử nào; đặc biệt, phụ nữ phải được đảm bảo những điều kiện làm việc không kém hơn đàn ông, được trả công ngang nhau đối với những công việc giống nhau, (ii) Một cuộc sống tương đối đầy đủ cho họ và gia đình họ phù hợp với các quy định của Công ước này; Những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh; Cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được đề bạt lên chức vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc; Sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm việc, những ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho những ngày nghỉ lễ [25]. So với quyền của người lao động thì quyền làm việc hẹp hơn nhưng lại là một quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất, bởi vì quyền làm việc chính là tiền đề, điều kiện quan trọng để thực hiện các quyền khác của người lao động nói riêng và các quyền của con người nói chung, như quyền về nhà ở, quyền về giáo dục, văn hoá. Ở Việt Nam, quyền làm việc được ghi nhận là quyền làm việc trong Hiến pháp năm 1959: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền làm việc. Nhà nước dựa vào sự phát triển có kế hoạch của nền kinh tế quốc dân, dần dần mở rộng công việc làm, cải thiện điều kiện lao động và lương bổng, để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó [25].
Luan van Hiến pháp năm 1980: Lao động là quyền, nghĩa vụ và vinh dự hàng đầu của công dân; Công dân có quyền có việc làm. Người có sức lao động phải lao động theo quy định của pháp luật; Nhà nước dựa vào kế hoạch phát triển kinh tế và văn hoá mà tạo thêm việc làm, sắp xếp công việc căn cứ vào năng lực, nguyện vọng cá nhân và yêu cầu của xã hội, nâng cao trình độ nghề nghiệp, bồi dưỡng sức lao động, không ngừng cải thiện điều kiện làm việc của lao động chân tay và lao động trí óc; Nhà nước quy định và bảo đảm thực hiện các chế độ nhằm đề phòng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp [34]. Hiến pháp năm 1992 quy định: "Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động" [35].
Hiến pháp năm 2013: "Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm" [36].