CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN VÀ BẢO VỆ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 1.1 Các khái niệm liên quan Lao động chưa thành niên là một loại lao động đặc thù, do sự khác biệt về đặc điểm tâm sinh lý, độ tuổi, nhận thức. so với các dối tượng lao động khác; nên đòi hỏi phải có một quy chế pháp lý riêng để bảo vệ những đối tượng lao động này. Lao động chưa thành niên là đối tượng lao động dé bị tổn thương nhất trong thi trường lao động, do sự non nớit về thể chất, trí tuệ và tinh thần; nên việc nghiên cứu và tìm hiểu về đối tượng lao động này là cần thiết, đặc biệt là các biện pháp bảo vệ về mặt pháp lý. Để những chú nhân tương lai của đất nước được sống, lao động và -_ học tập trong một môi trường có điều kiện phát triển toàn diện về mọi mặt.
Nhung khi để cập nghiên cứu về lao động chưa thành niên, lại nảy sinh nhiều vấn dé, đặc biệt trong đó có vấn dé khái niệm. Hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất vé mặt pháp lý giữa khái niệm lao động chưa thành niên, lao động trẻ em, trẻ em lao động. Vi vậy, trong phần này chúng tôi sẽ tập trung phân tích nhằm đưa ra được sự thống nhất trong cách hiểu giữa các khái niệm trên.1 Khái niệm trẻ em và khái niệm người chua thành niên Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu khái niệm “trẻ em” và khái niệm “người chưa thành niên” qua các quy định của luật pháp quốc tế và các quy định của pháp luật Việt Nam. Dé cập đến khái niệm “trẻ em”, Điều | Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ cm (20/11/1989) quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi; trừ khi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Như vậy, với quy định này 16 chúng ta có thể hiểu Liên hợp quốc công nhận mọi người chưa di 18 tuổi đều là trẻ cm; nhưng đây là một khái niệm mở, vì bên cạnh đó còn quy định trừ khi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn. Song, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO), quỹ dân số Liên hợp quốc (UNEPA) và tổ chức lao động quốc tế. (ILO) lại xác định: “Trẻ em là người dưới 15 tuổi”. Mặc dù, chưa có sự thống nhất nhưng các quy định của pháp luật quốc tế nói trên là cơ sở để pháp luật nước ta ban hành các văn bản pháp luật phù hợp.
Ở Việt Nam, các văn bản pháp luật cũng có sự quy định khác nhau về vấn dé này. Điều 1, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em ngày 16/08/1991 quy định: “ Trẻ em là từ sơ sinh đến dưới 16 tuổi”.Điều 12, Bộ Luật Hình sự năm 1999 quy định: “ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm”. Điều 6, Bộ Luật Lao động sửa đổi _ năm 2002 quy định: “ Người lao động là người ít nhất từ du 15 tuổi có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động”. Như vậy, thông qua các quy định trên đây có thể thấy trẻ em là những công dân ít tuổi, những nhân cách xã hội đang trong quá trình hình thành va phát triển.
“ Do còn non nớt về thể chất, tỉnh thần và trí tuệ ; trẻ cm cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục đặc biệt kể cả sự bảo vệ về pháp lý thích hợp trước cũng như sau khi ra đời”{37|. Quyền trẻ em được xây dựng xuất pháp từ ý thức tôn trọng phẩm giá cá nhân và các quyền con người nói chung, từ ý thức chuẩn bị cho trẻ em cuộc sống đây đủ hanh phúc va theo đúng tinh than: Loài người dành cho trẻ em những gi tốt đẹp nhất mà mình có. Trẻ em được hưởng tự do và mọi quyền đã được nêu ra thoi các công ước quốc tế về quyền con người mà “ Không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào vì chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dong dõi hoặc mối tương quan”[37]. Trong tất cả các quyển trẻ em, quyên lao động là một trong những quyền quan trọng nhất.
Về khái niệm “người chưa thành niên”, Điều 20 Bộ Luật Dân sự năm 1995 quy định: “Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” còn Bộ Luật Lao động sửa đổi năm 2002 quy định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” (Điều 19). Như vậy, theo quy định cửa pháp luật Việt Nam và nhiều nước trên thế giới đều xác định người chưa thành niên là chưa đủ 18 tuổi. Tuổi 18 dược coi là ranh giới để phân biệt người chưa thành niên và người đã thành niên. Các kết quả nghiên cứu khoa học pháp lý về đặc điểm tâm sinh lý, nhận thức của con người đều đi đến kết luận, khi đủ 18 tuổi con người được coi là đã bắt đầu đạt tới sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý, nhận thức và khi đó được coi là người trưởng thành.
Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý, nhận thức của người chưa thành niên (những người dưới 18 tuổi) những người đang ở tuổi cận kể với tuổi trưởng thành. Ở giai đoạn này, các em còn đang trong quá trình phát triển về mọi mặt, chưa dd bản lĩnh và sự chín chắn để có thể chịu đựng, vượt qua những khó khăn trong cuộc sống; xét ở khía cạnh này khái niệm “người chưa thành niên” có nhiều điểm tương đồng với khái niệm “trẻ em”. Tuy nhiên, hai khái niệm trên không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Như vậy, căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam có thể hiểu khái niệm “trẻ em” như sau: “trẻ em là những người dưới 16 tuổi”.
Còn theo quy định tại Điều 20 BLDS như đã để cập trên đây thì khái niệm “người chưa thành niên” đã bao hàm trong đó khái niệm “trẻ em” (tức tất cả những người dưới 18 tuổi đều là người chưa thành niên). Mặc dù, những người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi trên thực tế khi chỉ đến đối tượng này người ta thường dùng khát niệm “người chưa thành niên” nhiều hơn khái niệm “trẻ em”. Khi nói THƯ VIÊN | TƯƠNG ĐẠI HỌC LUAT dự N PHONG Gv Đi đến người chưa thành niên là chúng ta muốn nhấn mạnh đến vấn đề năng lực pháp luật và năng lực hành vi của những người này. Day là khái niệm mang tính pháp lý cao thường được ghi nhận trong các văn bản pháp luật.
Trong khi đó, khái niệm “trẻ cm” lại được nhắc đến thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trong và ngoài nước, trong các công ước quốc tế liên quan. Điều đó cho thấy khái niệm “trẻ em” là khái niệm mang tính xã hội, dễ hiểu, dé phổ biến, tuyên truyền. Có lẽ, đây cũng là lý do mà các văn bản pháp luật quốc tế khi để cập đến nhóm đối tượng này thường sử dụng khái niệm “trẻ cm” ma hầu như không thấy dé cập đến khái niệm “người chưa thành niên”.2 Khái niệm lao động trẻ em, lao động chưa thành niên, trẻ em lao động Trong hầu hết các văn bản pháp luật quốc tế, chủ yếu sử dụng thuật ngữ “lao động trẻ cm”; lao động trẻ em là một vấn đề rộng lớn và phức tạp, tổn tại từ trước đến nay trong xã hội loài người. Để đưa ra được một khái niệm về “lao động trẻ em”, không hé don giản vì các khái niệm “trẻ em” va “lao động” được hiểu khác nhau giữa các nước với các hệ thống chính wi, kinh tế, văn hoá và hoàn cảnh lịch sử khác nhau trong các thời kỳ khác nhau.
Hiện nay, lao động trẻ em là một khái niệm phổ biến trên toàn thế giới chỉ những công việc không phù hợp với trẻ em về các mặt (nhất là các mặt sức khoẻ, giáo dục và vui chơi, giải trí), không được trả thù lao thoả dáng. tương ứng với công sức mà các em đã bỏ ra hoặc làm những công việc của người lớn (từ 18 tuổi trở lên), ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ em và thậm chí còn độc hại, nặng nhọc mang tính lạm dụng, bóc lột mà trong đó gồm có những hình thức tồi tệ nhất cần phải cấm và xoá bỏ ngay lập tức như đã xác định trong công ước số 182 của ILO về cấm và hành động ngay lập tức để xoá bỏ những hình thức lao động trẻ em tôi tệ nhất. Trên thực tế, chỉ mới bắt đầu từ thập niên 80 19 của thế kỷ trước lao động trẻ em mới được công nhận là vấn dé toàn cầu và chính do sự nhìn nhận muộn màng này là nguyên nhân lớn nhất của sự lạm dụng và bóc lột lao động trẻ em. Tại nhiều diễn đàn quốc tế và khu vực Châu Á trong vài năm qua, việc phân biệt giữa hai khái niệm: “Lao động trẻ em” và “sự tham gia làm việc của trẻ em” da được đặt ra, đặc biệt với sự tham gia của chính trẻ cm lao động, như thể hiện trong tuyên bố của trẻ em Đông Nam Á và Đông Bắc Á tại diễn đàn của trẻ em chống lại các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (Tai Thái Lan trong các ngày | và 2 tháng 9 năm 1997), Sự tham gia làm việc của trẻ cm (trẻ em lao động) là khác với lao động trẻ em.
Sự tham gia làm việc của trẻ em không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển của trẻ em vì đó là những việc làm tư nguyện hoặc một hoạt động phi lợi nhuận hay đó là những công việc trong chính hộ gia đình các em. Sự tham gia làm việc của trẻ em là đáng khuyến khích vì nó mở ra cho các em những cơ hội trong cuộc sống va tạo cho trẻ em những kinh nghiệm mới mẻ. Trái lại, lao động trẻ em luôn hướng theo lợi nhuận, theo mục đích thương mại; trẻ cm phải làm việc suốt cả ngày, công việc liên tục và nó hướng vào những ngành công nghiệp làm ra sản phẩm và những hoạt động này vắt kiệt sức, ảnh hưởng đến tinh thần, thể chất của các cm. Như vậy, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy một số dấu hiệu để nhận biết lao động trẻ em như sau: Lao động trẻ cm là việc các em phải làm những công việc quá sức, quá nặng nhọc đối với tuổi và khả năng của trẻ em.