Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp luật về bảo vệ lao động nữ. Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ lao động nữ tại tỉnh Bình Dương. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ lao động nữ.
Chương | CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHAP LUAT VE BẢO VE LAO ĐỘNG NU’ 1. Cơ sở lý luận về bảo vệ lao động nữ Trải qua thời kỳ phong kiến chuyên chế với những định kiến hà khắc cùng thời kỳ đô hộ của thực dân, để quốc, phụ nữ Việt Nam không chỉ bị áp bức bóc lột về vật chất mà còn bị kìm hãm, trói buộc về mặt tỉnh thần. Thế nhưng, với tinh thần bất khuật cùng đức tính cần cù, vị tha, khiêm nhường, chung thủy vì gia đình xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ phong tặng: “anh hùng, bất khuất, trung hậu, dam đang” trong thời kỳ kháng chiến và “trung hậu, đảm dang, tài năng, anh hùng” trong thời ky hiện đại hóa đất nước, phụ nữ Việt Nam xứng đáng là chỗ dựa vững chắc cho sự trường tồn của quốc gia - dân tộc. Ngày nay, cùng với sự phát triển chung của xã hội, phụ nữ ngày càng có điều kiện tham gia vào các lĩnh vực trong đời sống và ngày càng phát huy vai trò của mình cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội.
Xã hội thừa nhận những đóng góp to lớn của phụ nữ trong việc tạo ra của cải vật chất và làm phát triển xã hội về mọi mặt trong đời sống.Ở nước ta, lao động nữ là nguồn lực to lớn góp phần quan trọng trong việc thực hiện thang lợi các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế — xã hội. Vi vậy, cùng với những chính sách kinh tế đúng đăn, Đảng và Nhà nước đã thực hiện một hệ thống chính sách xã hội công bằng và tiến bộ, hướng vào mục tiêu phát triển con người, tạo điều kiện cho tất cả mọi người, ké cả nam và nữ đều có thể đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung. Thực tế cũng khăng định, tiềm năng lao động nữ đã được phát huy và vị thế của người phụ nữ được nâng cao trong xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, lao động nữ cũng đang gặp nhiều khó khăn, việc bảo vệ lao động nữ đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho chúng ta.
Khai niệm người lao động Lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực, là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên nhằm thay đổi tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người. Qua đó, con người có thé nhận thức được những thuộc tính, quy luật, những hiện tượng của thế giới khách quan đã được bộc lộ trong quá trình tác ' http://www.vn/334/17698/Tu-tuong-va-tinh-cam-cua-Bac-Ho-voi-phu-nu.htm] động vào giới tự nhiên.Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của đời sống xã hội. Lao động là hoạt động sáng tạo đặc trưng nhất của con người, chính vì vậy “lao động là hoạt động quan trọng nhất tạo nên của cải vật chất và tinh thần cho xã hội” và “không có lao động đồng nghĩa với không có con người và xã hội loài người”. Hình thức lao động được tô chức ở tầm cao, vượt khỏi tầm của lao động gia đình và các hình thức tổ chức thấp khác đó chính là lao động mang tính xã hội.
Đó chính là quan hệ lao động công nghiệp, là quan hệ lao động có vai trò quan trọng nhất và quyết định sự phát triển của xã hội. Trong đó, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng tạo thành quy trình sản xuất của xã hội.Nhưng vai trò quyết định thuộc về lực lượng sản xuất, còn quan hệ sản xuất có vai trò tác động trở lại lực lượng sản xuất. Khái niệm lực lượng sản xuất chỉ tổng thé các yếu tố cau thành nội dung vật chat, kỹ thuật, công nghệ.của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người. Như vậy, lực lượng sản xuất đóng vai trò phan ánh căn bản trình độ chỉnh phục giới tự nhiên của con người đề tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Các yếu tố tạo thành lực lượng sản xuất (trong đó công cụ sản xuất là yếu tố phản ánh rõ ràng nhất trình độ chinh phục tự nhiên của con người) và người lao động (trong đó năng lực sáng tạo của nó là yếu tố đặc biệt quan trong). Có thé khang định rang: người lao động là nhân tố quan trọng nhất, bởi vi tư liệu sản xuất có nguồn pốc từ lao động của con người và được sử dụng bởi con người, tác động vào đôi tượng lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Như vậy, người lao động với khả năng lao động của mình kết hợp với tư liệu sản xuất trước hết là công cụ lao động để tạo nên lực lượng sản xuất.Họ chính là chủ thé trực tiếp cải tiến tư liệu sản xuất thông qua cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Ngày nay, trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường và thời đại toàn cầu hóa, nhất là toàn cầu hóa quan hệ lao động, để bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động, pháp luật lao động ngày càng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mỗi quan hệ lao động giữa người lao động, người sử dụng lao động.
tô chức dai diện cho người lao động và các chủ thê khác có liên quan. * Bộ luật Lao động năm 1994. Khái niệm “người lao động” được quy định khoản | Điều 3 BLLĐ năm 2012 như sau: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.Theo quy định hiện hành, để trở thành người lao động, chủ thể đó phải thỏa mãn những điều kiện nhất định mà pháp luật quy định bao gồm năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Cu thể, người lao động phải cần có ba đặc điểm sau đây: đáp ứng quy định của pháp luật về độ tuổi lao động; khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động” và được trả lương; chịu sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động.
về năng lực pháp luật lao động: năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng của cá nhân mà pháp luật quy định khi tham gia vào quan hệ pháp luật họ được hưởng quyên và có những nghĩa vụ. Đó là quyền được làm việc, hưởng tiền lương, chế độ về thời giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi, được đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động, an sinh xã hội. Mặt khác, người lao động phải gánh vác những nghĩa vụ theo cam kết hợp đồng, chịu sự điều hành và quản lý của người sử dụng lao động. Về năng lực hành vi lao động: năng lực hành vi vủa cá nhân là khả năng của cá nhân bằng chính hành vi của mình thực hiện quyền và nghĩa vụ khi tham gia vào một quan hệ pháp luật.
Năng lực hành vi lao động là khả năng của người lao động bằng chính hành vi của mình tham gia quan hệ pháp luật lao động để được hưởng quyền và gành vác nghĩa vụ trong quá trình lao động. Nó được thể hiện bằng hai yếu tổ thé lực và trí lực; trong đó, thể lực chính là sức khỏe bình thường của người lao động để thực hiện một công việc nhất định; trí lực là khả năng nhận thức của người lao động đối với công việc của họ và mục đích mà họ thực hiện công việc. Vi vậy, năng lực hành vi lao động chi xuất hiện khi cá nhân đạt đến một độ tuổi nhất định. Liên quan đến việc xác định tư cách người lao động, cần quan tâm chủ yếu các vấn đề sau đây: Thứ nhất, về độ tuôi lao động: được tính từ thời điểm bắt đầu lao động đến khi nghỉ hưu.
Theo đó, tuổi bắt đầu lao động từ 15 tuổi trở lên, khi sử dụng lao động chưa thành niên cần lưu ý một số nguyên tắc như chỉ sử dụng vào những công việc phù hợp với sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thê lực, trí lực, nhân cách; các quy định đặc thù về lao động, tiên lương, sức khỏe.; không sử dụng người chưa thành niên vào các * Hợp đồng lao động được quy định tại Chương III BLLĐ năm 2012. công việc nặng nhọc, nguy hiểm như mang, vác vật nặng quá thé trạng người chưa thành niên, công việc liên quan đến hóa chất, khí gas, chất nỗ.; không sử dụng người lao động chưa thành niên vào những nơi làm việc ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, thể trạng, nhân cách như nơi sản xuất kinh doanh côn, bia, thuốc lá, các chất tác động đến tinh thần, vũ trường, khách sạn. hoặc những khu vực độc hại nguy hiểm như dưới nước, hầm mỏ, công trường xây dựng.; tạo điều kiện để người chưa thành niên được học tập văn hóa. Bên cạnh đó, với một số ngành nghé đặc thù có tính chất công việc nhẹ nhàng theo Thông tư số 11/2013/TT-BLDTBXH của Bộ trưởng Bộ Lao động — Thương binh và Xã hội quy định danh mục công việc được sử dụng người dưới 15 tuổi, pháp luật cho phép sử dụng lao động từ đủ 13 đến dưới 15 tuôi (người lao động có năng lực hành vi lao động không đầy đủ).
Tuy nhiên, NSDLĐ phải tuân thủ theo các quy định: chỉ sử dụng lao động từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi vào những công việc nhẹ nhàng theo danh mục của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người đại điện theo pháp luật và được sự đồng ý của người lao động: sắp xếp thời gian làm việc đến việc học của người lao động; đảm bảo các điều kiện về an toàn — vệ sinh phù hợp với lứa tuổi. Luật quy định độ tuôi lao động nhằm bảo đảm khả năng lao động cho con người, để bảo vệ quyền lợi đối với người lao động chưa phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh than, tránh lạm dụng hoặc bóc lột lao động ảnh hưởng đến quá trình phát triển bình thường của con người. Độ tuổi 15 được quy định trên cơ sở dữ liệu khoa học và thực tiễn về mặt hình thức năng lực của cá nhân.