Tổng quan về luận án

Bảo vệ quyền lợi của người lao động có việc làm phi chính thức (LĐPCT) là một trong những thách thức pháp lý và xã hội lớn nhất của Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Sau hơn 35 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế vượt bậc: quy mô nền kinh tế tăng gấp 12 lần, thu nhập bình quân đầu người tăng 8,3 lần, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% (năm 1993) xuống còn 2,23% (năm 2021), và khu vực kinh tế tư nhân với hơn 786 nghìn doanh nghiệp (chiếm 98% tổng số doanh nghiệp cả nước) đóng góp trung bình gần 46% GDP hàng năm trong giai đoạn 2016–2021. Tuy nhiên, sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng các mô hình kinh tế mới như "kinh tế tuần hoàn", "kinh tế chia sẻ", "kinh tế tự do" và đặc biệt là "kinh tế Gig" (Gig Economy) dựa trên nền tảng số (tài xế công nghệ Grab, Bee; người giao hàng thương mại điện tử; người bán hàng trực tuyến) đã làm gia tăng quy mô và tính chất phức tạp của lực lượng LĐPCT.

+--------------------------------------------------------------------------------+
|                   THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG PHI CHÍNH THỨC TẠI VIỆT NAM              |
+--------------------------------------------------------------------------------+
|  • Quy mô LĐPCT trong lực lượng lao động: 68,5% (năm 2021) -> 65,1% (quý II/2023)|
|  • Không có HĐLĐ hoặc HĐLĐ không bằng văn bản: ~79% (năm 2022)                  |
|  • Không tham gia bất kỳ loại hình BHXH nào: 97,8% (năm 2022)                  |
|  • LĐ làm công ăn lương PCT bị trốn/thiếu BHXH bắt buộc: 35,5% (năm 2022)       |
+--------------------------------------------------------------------------------+

Mặc dù LĐPCT chiếm tỷ trọng áp đảo trong lực lượng lao động quốc gia (chiếm 68,5% năm 2021 và 65,1% vào quý II/2023), nhóm lao động này vẫn chịu nhiều thiệt thòi nghiêm trọng về an toàn sinh kế và an sinh xã hội. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2022 có gần 79% người lao động có việc làm phi chính thức không có hợp đồng lao động (HĐLĐ) hoặc HĐLĐ không bằng văn bản; đặc biệt có tới 97,8% LĐPCT không tham gia bất kỳ loại hình bảo hiểm xã hội (BHXH) nào, trong đó 35,5% là những người làm công ăn lương nhưng bị người sử dụng lao động (NSDLĐ) trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH bắt buộc.

Khoảng trống nghiên cứu (Research Gap) then chốt mà luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hoài (chuyên ngành Luật Kinh tế, Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Phạm Thị Thúy Nga) giải quyết chính là sự thiếu hụt khung lý luận toàn diện và cơ chế pháp lý khả thi để bảo vệ người lao động phi chính thức. Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019 bước đầu mở rộng phạm vi điều chỉnh sang "người làm việc không có quan hệ lao động" (Khoản 1 Điều 2), nhưng quy định tại Khoản 3 Điều 220: "người làm việc không có quan hệ lao động do các văn bản pháp luật khác quy định nhưng tùy từng đối tượng mà được áp dụng một số quy định trong Bộ luật này" vẫn mang nặng tính biểu tượng và tuyên ngôn pháp lý do thiếu các văn bản quy định chi tiết thi hành.

Luận án xác lập 03 câu hỏi nghiên cứu và 03 giả thuyết khoa học tương ứng:

  1. Câu hỏi nghiên cứu 1: Quan niệm lý luận như thế nào về việc làm phi chính thức, người lao động có việc làm phi chính thức và nội hàm pháp luật bảo vệ quyền lợi của nhóm đối tượng này?
    • Giả thuyết 1: LĐPCT chia sẻ các quyền lao động cơ bản với lao động chính thức nhưng mang tính chất bấp bênh, dễ tổn thương do thiếu cơ chế đối thoại, thương lượng tập thể và không được bao phủ đầy đủ bởi các chế định lao động truyền thống.
  2. Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ quyền lợi của LĐPCT tại Việt Nam hiện nay đang bộc lộ những khoảng trống và bất cập nào?
    • Giả thuyết 2: Hệ thống pháp luật đã ghi nhận một số quyền nhưng còn tản mạn, thiếu hướng dẫn thi hành cụ thể; các phương thức bảo vệ bằng thanh tra, giải quyết tranh chấp và công đoàn chưa thích ứng với đặc thù của lao động phi chính thức.
  3. Câu hỏi nghiên cứu 3: Cần xác lập những định hướng và giải pháp đột phá nào để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi LĐPCT tại Việt Nam?
    • Giả thuyết 3: Phải kết hợp đồng bộ việc hoàn thiện các quy phạm nội dung (mở rộng quyền làm việc an toàn, tiền lương tối thiểu, BHXH đa tầng) với hoàn thiện các phương thức pháp lý (thanh tra chuyên ngành, trọng tài lao động, chuyển đổi số quản lý lao động).

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ LĐPCT trong cả khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức, gồm nhóm có quan hệ lao động (làm công ăn lương) và nhóm không có quan hệ lao động (lao động tự làm, lao động gia đình, lao động nền tảng số) trong giai đoạn từ năm 2020 đến quý III/2023, có đối chiếu so sánh với dữ liệu từ năm 2016.


Literature Review và Positioning

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế cho thấy các công trình khoa học trước đây đã tiếp cận vấn đề theo ba nhánh chính:

                          CÁC NHÁNH NGHIÊN CỨU TIỀN ĐỀ
 Nhánh 1: Kinh tế & An sinh    Nhánh 2: Khu vực & Việc làm   Nhánh 3: Quyền con người &
 Đặng Quốc Đạt (2008),         Viện Khoa học Thống kê        Luật Lao động
 Lư Nguyễn Xuân Vũ (2010),     (2010), ILO (2016, 2021),     Võ Khánh Vinh (2011),
 Lưu Bích Ngọc (2011)...       Phạm Thị Đam (2019)...        Phạm Thị Thúy Nga (2015, 2021)...
  1. Nhánh tiếp cận gián tiếp qua lăng kính kinh tế và chính sách an sinh xã hội: Các tác giả Đặng Quốc Đạt (2008), Lư Nguyễn Xuân Vũ (2010), Lưu Bích Ngọc và Nguyễn Thị Thiêng (2011) đã mô tả thực trạng sinh kế của lao động di cư và lao động phế liệu đô thị. Các nghiên cứu này chỉ ra các nhóm lao động này là thành phần của khu vực kinh tế phi chính thức nhưng chưa xây dựng định nghĩa pháp lý độc lập cho LĐPCT.
  2. Nhánh tiếp cận theo khu vực kinh tế phi chính thức và tiêu chí việc làm: Viện Khoa học Thống kê (2010), Tổng cục Thống kê và Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO (2016, 2021), Đào Lạc Bình và Nguyễn Hải Ngân (2017), Ngô Thị Kim Dung (2014), Đoàn Thị Thu Hương (2015), Đào Thị Phương Liên (2020), Nguyễn Xuân Mai và Trần Nguyệt Minh Thu (2014) gắn khái niệm việc làm PCT với tiêu chí không có BHXH bắt buộc và không có HĐLĐ từ 3 tháng trở lên. Phạm Thị Đam (2019) đi sâu vào rào cản an sinh đối với lao động nữ di cư phi chính thức, chỉ ra rằng thủ tục khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) thiếu linh hoạt (giấy chuyển tuyến, quy định nơi đăng ký thường trú) gây khó khăn lớn cho người di cư.
  3. Nhánh tiếp cận quyền con người và bảo đảm pháp lý trong lao động: Võ Khánh Vinh (2011), Phạm Công Trực (2011), Phạm Thị Thúy Nga và Phạm Công Trực (2015), Lê Thị Hoài Thu (2013), Trần Nguyên Cường (2016), Phạm Hoàng Linh (2019), Phan Thị Lam Hồng (2021), Nguyễn Quỳnh Phương (2018), Nguyễn Thị Phương Thúy (2020) và Phạm Thị Thu Lan (2021) đã luận giải quyền lao động từ nền tảng quyền con người theo các chuẩn mực quốc tế như Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 (UDHR), Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 (ICESCR), Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR), và Công ước CEDAW năm 1979.

Trên bình diện quốc tế, các nghiên cứu đối sánh cung cấp bằng chứng thực nghiệm sâu sắc về tính chất tổn thương của lao động phi chính thức:

  • Dina Adei, Anthony Acquah Mensah, Williams Agyemang-Duah, Kenneth Kwame KanKam và Rahman Shiri (2021) trong công trình "Economic Cost of Occupational Injuries and Diseases among Informal Welders in Ghana" chứng minh gánh nặng tài chính khổng lồ từ tai nạn lao động mà thợ hàn phi chính thức phải tự gánh chịu do thiếu bảo hộ pháp lý.
  • Goetz (2022) trong nghiên cứu "What do we know about rural and informal nonfarming labour? Evidence from a mixed methods study of artisanal and smallscale mining in Northwest Tanzania" làm rõ thực trạng lao động khai khoáng thủ công quy mô nhỏ tại Tanzania.
  • Maranatha Wijayaningtyas, Kukuh Lukiyanto, Ellysa Nursanti và Dimas Indra Laksmana (2022) trong nghiên cứu "The effect of economical phenomenon on informal construction workers earnings within Covid-19 pandemic" tại Indonesia chỉ ra vòng xoáy thu nhập tối thiểu và việc bị tước đoạt các quyền cơ bản (nghỉ ốm, an toàn lao động) của công nhân xây dựng phi chính thức.
  • Salmon Mugoda, Stephen Esaku, Rose Kibuka Nakimu và Edward Bbaale (2020) khi nghiên cứu khu vực phi chính thức tại Uganda, cùng Mayowa Abiodun Peter-Cookey và Kanda Janyam (2017) chỉ ra mối quan hệ nhân quả: trình độ kỹ năng thấp dẫn tới năng suất thấp và thu nhập bấp bênh, cản trở việc thực thi quyền kinh tế của người lao động.

Định vị học thuật (Positioning): Luận án khắc phục hạn chế của các công trình đi trước vốn chỉ tiếp cận LĐPCT theo từng nhóm nghề đơn lẻ (lao động giúp việc gia đình, lao động di cư) hoặc thuần túy dưới góc độ thống kê kinh tế. Bằng việc xây dựng một hệ thống lý luận hoàn chỉnh trong khoa học pháp lý, luận án phân định ranh giới giữa "việc làm phi chính thức" và "khu vực kinh tế phi chính thức", xác lập cơ chế bảo vệ quyền lao động vượt ra khỏi biên giới của quan hệ lao động truyền thống.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án tạo ra bước chuyển đổi nhận thức học thuật (Paradigm Shift) trong khoa học pháp lý lao động Việt Nam thông qua ba đóng góp nền tảng:

                            3 ĐÓNG GÓP LÝ THUYẾT CỐT LÕI
1. Tái định nghĩa KHÁI NIỆM       2. Xác lập HỆ NGUYÊN TẮC        3. Phân loại CẤU TRÚC
Tách tính PCT khỏi "khu vực",     Quyền con người phổ quát,       Tách bạch: Có QHLĐ (làm công
gắn trực tiếp với trạng thái      bảo vệ thích ứng đa tầng,       ăn lương) vs Không có QHLĐ
được pháp luật bảo vệ.            công bằng và không phân biệt.   (tự làm, nền tảng số).
  1. Tái định nghĩa khái niệm Người lao động và Việc làm phi chính thức: Luận án chỉ rõ tính chất phi chính thức không do bản thân người lao động quyết định mà do tính chất của công việc họ đảm nhận. Luận án đưa ra định nghĩa mang tính bao quát cao:

    "Việc làm phi chính thức là việc làm có thể có hoặc không có quan hệ lao động và người lao động làm công việc đó không được đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc không được giao kết, thực hiện hợp đồng lao động theo luật định hoặc không được pháp luật lao động bảo vệ đầy đủ."

    Từ đó, luận án hoàn thiện khái niệm Người lao động nói chung (từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, tham gia vào hoạt động lao động tìm kiếm thu nhập hợp pháp mà không bắt buộc phải có chủ thể đối xứng là NSDLĐ) và xác lập định nghĩa Người lao động có việc làm phi chính thức.

  2. Xác lập hệ nguyên tắc bảo vệ quyền lợi LĐPCT: Mở rộng lý thuyết quyền con người trong lao động (Human Rights in Labor Law), khẳng định các quyền cơ bản (an toàn lao động, thu nhập tối thiểu bảo đảm mức sống, thời giờ nghỉ ngơi, an sinh xã hội) mang tính phổ quát, không thể bị tước đoạt dù người lao động có hay không có hợp đồng lao động chính thức.

  3. Lý giải 6 con đường hình thành việc làm phi chính thức trong nền kinh tế hiện đại:

    • (1) Công việc tự nhiên sinh ra chưa được pháp luật thừa nhận và điều chỉnh (lao động chăm sóc gia đình không hưởng lương);
    • (2) NSDLĐ cố tình vi phạm pháp luật, biến việc làm chính thức thành phi chính thức (giao kết hợp đồng dịch vụ/thầu khoán để trốn đóng BHXH);
    • (3) Xuất hiện các dạng việc làm phi tiêu chuẩn (thời vụ, tạm thời, "đổi công" nông nghiệp);
    • (4) Sự phân mảnh của chuỗi cung ứng sản xuất đẩy lao động ra bên ngoài doanh nghiệp (thuê gia công cắt may bên ngoài);
    • (5) Các mô hình việc làm mới trong nền kinh tế số chưa có khung pháp lý kịp thời (tài xế công nghệ, làm việc từ xa);
    • (6) Việc làm tự tạo không có quan hệ lao động (người tự làm, buôn bán nhỏ).

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba trụ cột lý thuyết: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin (nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập giữa người lao động và người sử dụng lao động); Lý thuyết quyền con người của Liên Hợp Quốc; và Khuôn khổ Việc làm thỏa đáng (Decent Work Agenda) của ILO.

Khung phân tích tập trung khảo sát 04 nhóm quyền lợi cốt lõi gắn liền với đời sống vật chất và tinh thần của LĐPCT:

  • Nhóm quyền làm việc: Quyền tự do lựa chọn việc làm, không bị cưỡng bức lao động, quyền làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ).
  • Nhóm quyền về thu nhập: Tiền công công bằng, bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.
  • Nhóm quyền về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi: Giới hạn số giờ làm việc tối đa và bảo đảm thời gian tái sản xuất sức lao động.
  • Nhóm quyền về an sinh xã hội: Quyền tham gia BHXH (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí), BHYT và tiếp cận trợ giúp xã hội từ Nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển thị trường lao động bền vững, an ninh con người và tiến bộ công bằng xã hội (đặc biệt là Văn kiện Đại hội XIII của Đảng).

Thiết kế nghiên cứu kết hợp đa tầng (Multi-level Legal Design):

  • Cấp độ vĩ mô: Hệ thống chuẩn mực lao động quốc tế (ILO, CEACR, ICLS, UN).
  • Cấp độ trung mô: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Hiến pháp 2013, BLLĐ 2019, Luật BHXH 2014, Luật ATVSLĐ 2015, Luật Việc làm 2013, Luật Xử lý vi phạm hành chính).
  • Cấp độ vi mô: Thực tiễn thi hành pháp luật tại các địa phương, doanh nghiệp và các nền tảng kinh tế số.
                           THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ĐA TẦNG
Cấp độ Vĩ mô                      Cấp độ Trung mô                   Cấp độ Vi mô
Chuẩn mực quốc tế                 Hệ thống pháp luật VN             Thực tiễn thi hành
(ILO, CEACR, ICLS, UN)            (Hiến pháp, BLLĐ, Luật BHXH)      (Doanh nghiệp, Gig Economy)

Quy trình nghiên cứu rigorous

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học và liên ngành khoa học xã hội:

  • Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật (Normative Legal Analysis): Mổ xẻ câu chữ, cấu trúc logic và tính tương thích giữa các điều khoản của BLLĐ năm 2019, Luật BHXH năm 2014 và các văn bản dưới luật.
  • Phương pháp so sánh luật học (Comparative Law Method): Đối chiếu pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực của ILO (Công ước số 87, 98, 102, Khuyến nghị số 204 về chuyển đổi từ kinh tế phi chính thức sang chính thức) và kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia đang phát triển (Ghana, Tanzania, Indonesia, Uganda).
  • Phương pháp thống kê xã hội học: Thu thập, xử lý và phân tích chuỗi dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Báo cáo thường niên của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ sở dữ liệu của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam từ năm 2016 đến quý III/2023.
  • Phương pháp nghiên cứu điển hình (Case Study Method): Đi sâu phân tích các nhóm việc làm đặc thù (lao động giúp việc gia đình, lao động nền tảng công nghệ, thợ xây dựng tự do).

Data và phân tích

Nguồn số liệu thực chứng được trích xuất từ các cuộc điều tra lao động việc làm quy mô quốc gia:

  • Khảo sát cơ cấu lao động giai đoạn 2020 – quý III/2023: Tỷ lệ LĐPCT tại Việt Nam duy trì ở mức cao (68,5% năm 2021; 65,1% năm 2023), cao hơn nhiều nước trong khu vực nhưng thấp hơn một số quốc gia như Pakistan (84,3%) hay Rwanda (87,1%).
  • Thống kê tình hình tai nạn lao động giai đoạn 2019 - 2022 trong và ngoài khu vực có quan hệ lao động: Làm rõ sự chênh lệch lớn về số liệu khai báo giữa khu vực chính thức và phi chính thức.
  • Bảng so sánh mức đóng BHXH bắt buộc của NLĐ chính thức (10,5%) và NSDLĐ (21,5%) so với mức đóng BHXH tự nguyện của LĐPCT (22% vào quỹ hưu trí và tử tuất trên mức thu nhập lựa chọn), chỉ rõ sự bất bình đẳng về gánh nặng chi phí đóng bảo hiểm.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

+-----------------------------------------------------------------------------------------+
|                                5 PHÁT HIỆN ĐỘT PHÁ CỦA LUẬN ÁN                          |
+-----------------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Lỗ hổng pháp lý cấu trúc tại Điều 2 & 220 BLLĐ 2019 (thiếu nghị định hướng dẫn).      |
| 2. Hiện tượng "Phi chính thức hóa trá hình": 35,5% LĐ làm công ăn lương bị tước BHXH.    |
| 3. Vòng luẩn quẩn: Kỹ năng thấp -> Năng suất thấp -> Bấp bênh -> Không có an sinh.     |
| 4. Bất cập thiết kế chính sách BHXH tự nguyện (chỉ có 2 chế độ dài hạn, phí đóng cao).  |
| 5. Thiết chế bảo vệ truyền thống (Thanh tra, Công đoàn, Tòa án) bị vô hiệu hóa ở LĐPCT.  |
+-----------------------------------------------------------------------------------------+
  1. Khoảng trống pháp lý mang tính cấu trúc trong BLLĐ năm 2019: Mặc dù BLLĐ năm 2019 đã có bước tiến mang tính bước ngoặt khi mở rộng phạm vi điều chỉnh sang "người làm việc không có quan hệ lao động", nhưng việc thiếu các nghị định và thông tư hướng dẫn chi tiết Khoản 3 Điều 220 đã khiến quy định này trở thành một "tuyên ngôn mang tính biểu tượng", không tạo ra cơ chế bảo vệ khả thi trên thực tế.
  2. Hiện tượng "phi chính thức hóa việc làm" diễn ra ngay trong khu vực kinh tế chính thức: Luận án chỉ ra rằng có tới 35,5% người lao động làm công ăn lương phi chính thức đang làm việc cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh chính thức nhưng bị tước đoạt quyền lợi bằng các thủ thuật pháp lý: ký hợp đồng dịch vụ, hợp đồng thầu khoán công việc, ký hợp đồng miệng hoặc ký chuỗi hợp đồng ngắn hạn dưới 3 tháng nhằm trốn tránh đóng BHXH bắt buộc và né tránh nghĩa vụ bảo đảm ATVSLĐ.
  3. Mối quan hệ nhân quả giữa thiếu hụt kỹ năng và bẫy thu nhập bấp bênh: Dữ liệu thực chứng khẳng định phần lớn LĐPCT tại Việt Nam có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông, chưa qua đào tạo nghề chính quy, dẫn đến năng suất lao động thấp và thu nhập không ổn định. Điều này đặt họ vào thế yếu trong mọi thỏa thuận lao động, buộc phải chấp nhận môi trường làm việc độc hại, nguy hiểm mà không có bất kỳ công cụ phòng ngừa rủi ro nào.
  4. Sự bất cập trong thiết kế chính sách BHXH tự nguyện: Chính sách BHXH tự nguyện hiện hành chỉ cung cấp 02 chế độ dài hạn (hưu trí và tử tuất), hoàn toàn thiếu vắng các chế độ ngắn hạn có nhu cầu cấp thiết hàng ngày (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp). Đồng thời, mức đóng 22% là quá cao so với thu nhập bấp bênh của LĐPCT, trong khi mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước còn mang tính tượng trưng, dẫn đến tỷ lệ tham gia BHXH của LĐPCT năm 2022 chỉ đạt mức 2,2%.
  5. Sự vô hiệu hóa của các thiết chế bảo vệ truyền thống đối với lao động phi chính thức:
    • Thanh tra lao động: Lực lượng thanh tra quá mỏng, chỉ kiểm tra được một tỷ lệ nhỏ doanh nghiệp chính thức; khu vực phi chính thức và hộ kinh doanh cá thể hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát.
    • Công đoàn: Tổ chức công đoàn cơ sở chỉ tồn tại trong các đơn vị có quan hệ lao động chính thức, bỏ trống hoàn toàn việc đại diện, bảo vệ quyền lợi cho LĐPCT và lao động tự do.
    • Tòa án và Trọng tài lao động: Cơ chế giải quyết tranh chấp đòi hỏi chứng cứ bằng văn bản (HĐLĐ), khiến gần 79% LĐPCT không có hợp đồng văn bản bị tước bỏ khả năng tiếp cận công lý tư pháp khi xảy ra tranh chấp hoặc tai nạn lao động.

Implications đa chiều

                           HỆ THỐNG GIẢI PHÁP ĐA CHIỀU
Hoàn thiện Pháp luật              Cải cách Chính sách               Đổi mới Thiết chế
• Quy định chi tiết Điều 220      • Gói BHXH ngắn hạn linh hoạt    • Trao quyền cho Công đoàn mở
• Cơ chế "Suy đoán QHLĐ"          • Hỗ trợ mức đóng từ ngân sách   • Thanh tra chuyên đề số hóa
• Mở rộng tiền lương tối thiểu    • Bỏ rào cản cư trú trong BHYT   • Trọng tài lao động linh hoạt
  • Về lý luận lập pháp: Chuyển đổi căn bản triết lý bảo vệ người lao động từ mô hình "dựa trên quan hệ hợp đồng lao động truyền thống" sang mô hình "dựa trên trạng thái lao động thực tế và quyền con người". Pháp luật lao động cần thừa nhận các vùng xám (như lao động nền tảng công nghệ) thông qua cơ chế suy đoán quan hệ lao động (presumption of employment) khi có yếu tố điều hành, giám sát và trả công.
  • Về hoàn thiện chính sách BHXH: Đề xuất sửa đổi Luật BHXH theo hướng thiết kế các gói BHXH tự nguyện linh hoạt, bổ sung chế độ trợ cấp thai sản và trợ cấp tai nạn lao động vi mô do Nhà nước đồng tài trợ; xóa bỏ hoàn toàn rào cản đăng ký thường trú trong tiếp cận BHYT và dịch vụ y tế công đối với lao động di cư.
  • Về thiết chế thực thi: Mở rộng Điều lệ Công đoàn Việt Nam để cho phép LĐPCT, lao động tự do thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn cơ sở; thiết lập đường dây nóng và cơ chế thanh tra lưu động, ứng dụng nền tảng số để giám sát việc tuân thủ pháp luật lao động tại các doanh nghiệp và hộ kinh doanh.