Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp Dưới góc độ kinh tế - xã hội, BHTN được hiểu là giải pháp nhằm khắc phục hậu quả của tình trạng thất nghiệp, giúp NTN tạm thời đảm bảo được cuộc sống và tìm kiếm việc làm thông qua việc tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung. Quỹ này được hình thành qua sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ có sự hỗ trợ của nhà nước, được sử dụng để trả trợ cấp thất nghiệp, cũng như tiến hành các biện pháp nhằm nhanh chóng giúp NTN có được việc làm mới.
Dưới góc độ pháp lý, BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả cho TCTN để bù đắp thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa NTN trở lại làm việc. BHTN vì thế thường được hiểu là một chế độ trong hệ thống các chế độ BHXH, có mục đích hỗ trợ thu nhập cho NLĐ bị mất thu nhập do thất nghiệp. BHTN là một phạm trù kinh tế - xã hội gắn với sự ra đời của sản xuất hàng hoá và phân công LĐ xã hội, giúp cho NLĐ giảm bớt khó khăn, ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình khi bị mất việc làm, tái hoà nhập thị trường LĐ. Theo ILO Convention (1952) và ILO Convention (1988): BHTN là một hình thức BHXH nhằm đảm bảo chi trả một khoản trợ cấp tối thiểu trong một thời gian giới hạn cho những cá nhân bị thất nghiệp mà không do lỗi của họ, gây ra việc mất thu nhập mà họ và gia đình họ dựa vào đó.
BHTN thường chỉ đảm bảo cho những NLĐ có thu nhập định kỳ, bởi vì theo lý thuyết những đối tượng này dễ gặp phải rủi ro thất nghiệp không tự nguyện. Xuất phát từ những ý kiến trên, có thể xem khái niệm BHTN như sau: BHTN là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung-quỹ BHTN-được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia (NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước) nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình khi gặp rủi ro về việc làm. Mặt khác, 7 Luan van TCTN của Nhà nước và trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm khác với việc hình thành quỹ BHTN là một quá trình thường xuyên, liên tục, và có sự tham gia đóng góp của cả NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước. BHTN không những là sự đóng góp chung rủi ro mất việc làm cùng tham gia đóng góp vào quỹ và từ quỹ đó hỗ trợ tài chính cho một bộ phận nhỏ những người không may rơi vào tình trạng thất nghiệp; mà còn là sự góp chung rủi ro giữa các DN với nhau[18].
Về mặt kinh tế, các đối tượng tham gia BHTN đã huy động và hình thành một quỹ tiền tệ chung nhằm hỗ trợ cho những NLĐ bị mất việc làm, giúp đỡ họ giải quyết khó khăn tạm thời để sớm tìm được việc làm mới từ đó góp phần gia tăng năng suất LĐ, thúc đẩy phát triển kinh tế, giảm các nguồn chi từ ngân sách nhà nước hoặc các quỹ tiền tệ khác đối với các chương trình hỗ trợ liên quan đến NTN. Về mặt pháp lý, BHTN là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các bên tham gia vào quá trình thực hiện các chế độ về BHTN. Về mặt xã hội, BHTN giúp hạn chế những rủi ro có thể mang đến cho con người từ việc mất việc làm và thu nhập. Nhà nước đã sử dụng công cụ này như là một trong những biện pháp đảm bảo ASXH, góp phần đảm bảo trật tự, an ninh xã hội để giải quyết những bất ổn về tâm lý của các NTN.
Những người tham gia BHTN họ cũng ổn định tinh thần trong quá trình làm việc, kích thích tăng năng suất LĐ, thu hẹp khoảng cách mâu thuẫn về quyền lợi giữa NLĐ và NSDLĐ. Vậy, BHTN là một trong những chế độ thuộc hệ thống các chế độ về ASXH của một quốc gia, được hình thành nhằm khắc phục những biến cố xảy ra đối với việc làm của NLĐ bằng các biện pháp trợ cấp kinh tế và hỗ trợ tìm kiếm việc làm mới. Tác động của thất nghiệp đến kinh tế - xã hội * Tác động đến sự tăng trưởng kinh tế Thất nghiệp xảy ra đồng nghĩa rằng lực lượng LĐ đang bị lãng phí, họ không được sử dụng đúng cách. Sức LĐ bị lãng phí thì nền kinh tế làm sao có thể phát triển? Tình trạng thất nghiệp tăng cao cũng là dấu hiệu của sự suy thoái kinh tế.
Nó là nguyên nhân chính gây ra tình trạng lạm phát. 8 Luan van Đối tượng phải chịu ảnh hướng trực tiếp và cũng là ảnh hưởng nặng nề nhất của tình trạng thất nghiệp chính là NLĐ. Họ không có việc làm đồng nghĩa họ không có thu nhập. Không có tiền trong tay sẽ dẫn đến sự đói kém, gây sức khỏe giảm sút.
Một người trong gia đình không có thu nhập sẽ tạo ra gánh nặng cho những người còn lại. Cha mẹ không có công ăn việc làm thì con cái sẽ không có cái ăn, không được đi học và cũng chẳng ai còn lo cho sức khỏe của chúng. * Gây nguy hại đến trật tự xã hội Thất nghiệp là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến xã hội bất ổn. NLĐ không có việc làm sẽ sinh ra tâm lý bất mãn, họ có thể tụ tập tiến hành biểu tình khiến sự yên bình trật tự xã hội thường ngày không còn.
Nhiều NTN đang là một NLĐ nghiêm túc thì bỗng nhiên “nhàn cư vi bất thiện” trở nên có những tính xấu như trộm cắp hoặc có thể dụ dỗ nghiện ngập hay mại dâm cũng chỉ vì “đói ăn vụng, túng làm liều”. Tóm lại, thất nghiệp mang đến nhiều tác hại cho bản thân NLĐ, cho nền kinh tế và cho cả xã hội. Vì vậy, chúng ta hãy cố gắng tận dụng kiến thức, kỹ năng của bản thân để tìm cho mình công việc thích hợp nhất tránh rơi vào tình trạng thất nghiệp. Ý nghĩa bảo hiểm thất nghiệp BHTN có ý nghĩa rất thiết thực trong cuộc sống, đảm bảo mục tiêu ASXH và phát triển kinh tế, chính trị của mỗi quốc gia cụ thể như sau[17]: * BHTN có chức năng bảo vệ, bù đắp những tổn thất về mặt tài chính cho NLĐ bị thất nghiệp và giúp họ có khả năng cũng như cơ hội quay lại thị trường làm việc.
* BHTN không chỉ là công cụ giải quyết vấn đề thất nghiệp trong xã hội mà còn là chính sách giúp ổn định xã hội một cách tốt nhất. * Bảo hiểm thất nghiệp còn có chức năng khuyến khích giúp hạn chế sự ỷ lại của NLĐ, khuyến khích họ chăm chỉ làm việc, sẵn sàng làm việc. * Sau những lợi ích trên thì BHTN vừa đóng vai trò quan trọng đối với DN, vừa đóng vai trò tối ưu đối với Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề xã hội. * Nhờ có BHTN, khi NLĐ bị mất việc, chủ DN không phải mất phí trợ cấp mất việc làm cho NLĐ nên NSDLĐ sẽ sử dụng nguồn LĐ thoải mái và hợp lý hơn, tạo động lực cho sản xuất phát triển.
9 Luan van * Cũng nhờ có BHTN mà gánh nặng ngân sách của nhà nước khi có thất nghiệp xảy ra được giảm thiểu. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp BHTN là một chế định tiến bộ có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia[41], đó là: 1.1 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động Khi tham gia quan hệ LĐ, NLĐ muốn tìm kiếm công việc tốt, thu nhập ổn định cao, đúng với chuyên môn kỹ thuật hoặc ít nhất là có việc làm, có thu nhập đủ để duy trì ổn định cuộc sống của cá nhân và gia đình bình thường. BHTN là một giải pháp tạm thời giúp NTN có thể cân bằng được tâm lý cũng như tài chính trong thời gian đầu hụt hẫng do bị mất việc làm. BHTN vừa giúp đỡ họ ổn định cuộc sống khi bị mất việc làm thông qua việc trả TCTN vừa tạo cơ hội để họ có thể tiếp tục tham gia thị trường LĐ.
Tạo ra chỗ dựa về vật chất và tinh thần cho NLĐ khi lâm vào tình trạng mất việc làm. Với bất kỳ NLĐ nào đều có nhu cầu tìm cho mình một công việc ổn định, phù hợp với trình độ, khả năng của bản thân, nhất là những công việc nhẹ nhàng nhưng có mức lương cao nhằm duy trì cuộc sống ở mức cơ bản so với mức sống chung của toàn xã hội. Khi NLĐ không may gặp rủi ro và mất việc làm thì BHTN sẽ chịu trách nhiệm trong việc chi trả trợ cấp thông qua một khoản tiền nhất định giúp NLĐ ổn định cuộc sống và có thể tránh rơi vào tình trạng cùng cực, nghèo khó. Khoản tiền trợ cấp tuy không quá lớn những cũng là một khoản hỗ trợ về mặt tài chính nhằm đảm bảo sự “cân bằng” trong cuộc sống của NLĐ khi bị thất nghiệp.
Đây chính là điểm đặc thù của BHTN so với các chế độ khác của BHXH, mang bản chất đặc trưng của chế độ việc làm. Ngoài ra, NLĐ bị thất nghiệp còn được hưởng nhiều quyền lợi khác từ BHTN như được đóng bảo hiểm y tế trong thời gian bị thất nghiệp hay được bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ. Đây là một trong giải pháp hữu hiệu trong việc phòng ngừa từ xa tình trạng thất nghiệp có thể xảy ra. Vai trò của BHTN đối với NLĐ là: động viên NLĐ hăng hái - tích cực hơn trong quá trình làm việc; là bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi bị mất việc làm, 10 Luan van giúp họ và gia đình ổn định cuộc sống; là phân phối lại thu nhập giữa những người cùng tham gia BHTN; là Quỹ BHTN nhàn rỗi được tái đầu tư sẽ góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội Các nguồn thu chủ yếu từ các đối tượng tham gia đã tồn tích, hình thành quỹ BHTN, trong thời gian nhàn rỗi có thể đầu tư một phần vào các hoạt động kinh tế để tạo lợi nhuận hợp lý, góp phần tăng thêm nguồn thu cho quỹ BHTN.
Khoản đầu tư này vừa góp phần phát triển sản xuất - kinh doanh cho nền kinh tế, vừa đảm bảo an toàn cho quỹ BHTN không bị trượt rồi mất giá để chi trả trợ cấp BHTN cho NLĐ.