MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. Khung phân tích. Phƣơng pháp nghiên cứu.
CƠ SỞ LÝ LU N VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI. Tổng quan nghiên cứu vấn đề. Tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam.
Các khái niệm công cụ. Thích ứng (Adaptability). Thích ứng việc làm. Cơ sở lý luận và lý thuyết áp dụng.
Vài nét về trƣờng Đại học KHXH &NV và cựu sinh viên tốt nghiệp từ trƣờng. PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ THÍCH ỨNG VỚI VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP CÁC NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN. Mức độ thích ứng đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Sự thích ứng của sinh viên với môi trường làm việc.
Sự thích ứng của sinh viên về kiến thức, kỹ năng, phương pháp. Phân tích sự tác động của các yếu tố đến thích ứng với việc làm của cựu sinh viên .1 Các yếu tố tác động đến sự thích ứng của sinh viên với môi trường làm việc. Các yếu tố tác động đến sự thích ứng về kiến thức, kỹ năng và phương pháp. 65 KẾT LU N VÀ KHUYẾN NGHỊ.
77 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 83 z DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Tỷ lệ trung bình mức độ thích ứng với môi trường làm việc. 38 Bảng 2: Mức độ thích ứng của sinh viên với môi trường làm việc. 40 Bảng 3: Tỷ lệ trung bình sự ứng dụng về kiến thức, kỹ năng và phương pháp.
42 Bảng 4: Mức độ ứng dụng kiến thức, kỹ năng và phương pháp của sinh viên vào công việc. 44 Bảng 5: Tỷ lệ sinh viên làm việc phù hợp với chuyên môn được đào tạo ở đại học. 50 Bảng 6: Mô hình hoá các yếu tố tác động đến sự thích ứng của sinh viên với môi trường làm việc. 56 Bảng 7: Mô hình hoá các yếu tố tác động đến sự thích ứng về kiến thức, kỹ năng, phương pháp.
Lý do chọn đề tài Nguồn nhân lực là vấn đề cốt lõi trong sự phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Phát triển nguồn nhân lực là điều kiện để thực hiện mục tiêu bền vững, bao trùm và công bằng trong quá trình phát triển. Nhiều quốc gia tiên tiến đã chủ động đầu tư, xây dựng phát triển nguồn nhân lực làm cơ sở để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tạo sự bứt phá nhanh cho đất nước. Theo Tổ chức Liên Hợp quốc, nguồn nhân lực là “toàn bộ những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” (UN, 2013).
Nguồn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân, thường được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn khác như tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Trong cơ cấu nguồn nhân lực, sinh viên có một vai trò rất quan trọng. Trong tương lai, sinh viên chính là những người sẽ ra nhập đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội. Tuy nhiên, từ sự chưa nhịp nhàng về cung của đào tạo và cầu của thị trường cùng với những bất cập của hệ thống giáo dục khiến nhiều sinh viên ra trường không có việc làm.
Trong những năm qua, chỉ có khoảng 37% sinh viên tốt nghiệp đại học tìm được việc làm, con số hơn trăm nghìn cử nhân, thạc sỹ vừa tốt nghiệp song vẫn không tìm được việc làm đã phải chấp nhận làm trái ngành, trái nghề, thậm chí không lương để chờ việc. Không nằm ngoài thực trạng chung đó, sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội cũng đang phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc làm trái ngành, trái nghề ngày một tăng cao. Thậm chí với tình hình suy thoái kinh tế và chính sách tinh giảm biên chế trong những năm gần đây lại làm gia tăng những khó khăn trong tìm kiếm việc làm đối với sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành khoa học xã hội. Trước tình hình đó, sẽ có rất nhiều 1 z câu hỏi đặt ra về nguyên nhân do đâu dẫn đến thực trạng này.
Một trong những câu trả lời quan trọng nhất đó chính là việc tìm hiểu thực tế những sinh viên sau khi ra trường họ đang làm việc như thế nào, có đáp ứng được nhu cầu thực tiễn xã hội hay không? Hiện nay, nâng cao chất lượng giáo dục đại học đang là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Ở một khía cạnh nào đó, chất lượng nguồn nhân lực là sự phản ánh về chất lượng giáo dục. Vì vậy, để tìm ra những biện pháp có tính chiến lược trong giáo dục đại học không thể không dựa vào thực tiễn công việc của sinh viên sau khi ra trường. Sinh viên sau khi ra trường đang làm công việc gì và làm như thế nào đó cũng là băn khoăn của các đơn vị giáo dục, các thầy cô và của chính các bạn sinh viên.
Về lĩnh vực nghiên cứu, nghiên cứu về việc làm của sinh viên luôn là vấn đề có tính thời sự; nó thu hút sự quan tâm của rất nhiều đối tượng trong xã hội như những nhà hoạch định chính sách, học sinh, sinh viên, các bậc phụ huynh. Trước những nghiên cứu về việc làm của sinh viên, chúng tôi nhận thấy những nghiên cứu về sự thích ứng với việc làm của sinh viên hiện nay vẫn chưa được quan tâm một cách xứng đáng. Nhất là việc sau khi ra trường, sinh viên có thích ứng được với môi trường làm việc, thích ứng về kiến thức, kỹ năng và phương pháp đối với công việc hay không. Có rất nhiều đề tài đã quan tâm đến việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường, trong đó có đối tượng là sinh viên các ngành khoa học xã hội.
Tuy nhiên, nghiên cứu về sự thích ứng việc làm, nhất là đối với sinh viên thuộc các ngành khoa học xã hội thì chưa được nhắc đến nhiều. Vấn đề tìm việc và thích ứng được với công việc của cá nhân là tiền đề vô cùng quan trọng, quyết định sự thành đạt của chính cá nhân đó. Đó là tiền đề để cá nhân có thể phát huy khả năng của mình và trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Vậy sau khi được trang bị đầy đủ các kiến thức, kỹ năng với ngành nghề mà mình đã được đào tạo, các cá nhân đã thích ứng với công việc mới như thế nào, có 2 z hài lòng với công việc của mình hay không, hay cá nhân tự tạo việc làm, hoặc không thích ứng được với môi trường làm việc nên thường xuyên thay đổi công việc tạm thời.
Thông qua việc nghiên cứu về sự thích ứng của sinh viên đối với việc làm sẽ giúp các nhà quản lý giáo dục thấy được rõ nhất chất lượng thành quả, sản phẩm của mình, sẽ chỉ ra một trong những nguyên nhân về tình trạng thất nghiệp của sinh viên. Với những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội và nhân văn” (Nghiên cứu đối với sinh viên tốt nghiệp từ trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN) làm đề tài nghiên cứu của mình. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 2. Ý nghĩa lý luận Đề tài sử dụng lý thuyết xã hội hóa cá nhân và lý thuyết sự lựa chọn hợp lý để phân tích sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội và nhân văn với hy vọng những thông tin thực nghiệm sẽ được làm rõ hơn từ nội dung của những lý thuyết nói trên.
Ý nghĩa thực tiễn Phân tích sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp sẽ giúp xã hội nói chung, các cơ sở đào tạo và các bạn sinh viên nói riêng giải đáp được thắc mắc sinh viên ra trường làm việc như thế nào. Từ đó sẽ có sự điều chỉnh hợp lý trong hoạt động giảng dạy của các cơ sở giáo dục và hoạt động học tập của sinh viên nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Tìm hiểu sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay. - Phân tích những yếu tố tác động đến sự thích ứng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 4. Đối tƣợng nghiên cứu: Sự thích thích ứng với việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp từ trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Khách thể nghiên cứu: + Những sinh viên đã tốt nghiệp đại học chính quy của tất cả các khoa/ngành học của trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN từ năm 2010 đến năm 2014. + Các nhà quản lý có sử dụng người lao động là sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 5. Câu hỏi nghiên cứu Câu hỏi 1: Sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thích ứng như thế nào với việc làm sau khi tốt nghiệp? Câu hỏi 2: Những yếu tố nào tác động đến việc thích ứng đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN. Giả thuyết nghiên cứu Chúng tôi đưa ra các giả thuyết nghiên cứu như sau để kiểm chứng nhằm tìm ra câu hỏi nghiên cứu của đề tài: - Sinh viên có sự thích ứng tốt với môi trường làm việc nhưng sự thích ứng với kiến thức, kỹ năng và phương pháp lại không cao. - Có nhiều yếu tố khác nhau tác động đến sự thích ứng đối với việc làm như quê quán, loại hình công việc, thu nhập, công việc phù hợp với chuyên môn đào tạo.
Khung phân tích Để xây dựng khung phân tích cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn các yếu tố tác động thuộc về cá nhân và các yếu tố bên ngoài cá nhân, ở đây chính là yếu tố gắn với việc làm mà cựu sinh viên sẽ phải thích ứng. Các yếu tố chính thuộc về cá nhân được chúng tôi lựa chọn là: Giới, học lực, quê quán.