Chương 1: Một sé vấn để lý luân về bão hiểm thất nghiệp và nhận diện hành vi trục lợi bao hiểm thất nghiệp Chương 2: Thực tiễn thi hành pháp luật về bao hiểm that nghiệp và thực trang trục lợi bao hiểm thất nghiệp tại thành phô Ha Nội Chương 3: Giải pháp phòng chống trục lợi bão hiểm thất nghiệp vả nâng, cao hiệu quả thực hiên pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp CHUONG 1.MỘT SỐ VẤN DE LÝ LUẬN VE BẢO HIỂM THAT NGHIỆP. 'VÀ NHẬN DIEN HANH VI TRỤC LỢIBẢO HIỂM THAT NGHIỆP. Khái quát chung về bảo. Khái niệm và ý nghĩa của báo hiểm thất nghiệp ‘That nghiệp được coi là một van để lanh tế - xã hội trong 24 hội hiển.
Đó là hiến tương người lao đông (NLĐ) bi mắt thu nhập do không tìm. được một việc lam thích hợp trong trường hop người đó có khả năng lam việc. va sẵn sảng làm việc. Trong nên kinh tế thi trường, luôn luôn tổn tai một bổ phan NLD bi thất nghiệp Dé giải quyết van nan thất nghiệp ở Viet Nam, Chỉnh phi dua ra rất nhiễu chính sách va biên pháp khác nhau, trong đó có chính sách được coi trong va có tác động tôi uu nhất là bão hiểm thất nghiệp (BHTN) ~ một bô phan cia bao hiểm 28 hội (BHXH) nhắm bảo vệ NLD trong trường hop bi mất việc làm.
Theo Công ước số 102 về Quy pham tối thiểu về an toàn xã hội năm 1952 của ILO, BHTN là một trong chín nhánh của BHXH, lả một biện pháp. hỗ trợ thiết thực vé mặt tai chính cho NLĐ trong lúc mắt việc lam nhằm giúp hho khắc phục khó khăn, 6n định cuộc sống. Ngoài ra, cơ chế pháp lý nảy còn. tạo dung hệ thông các giải pháp hỗtrợ như.
hỗtrợ học nghệ, tư van, giới thiệu. việc lam cho NLD mắt việc nhằm tạo điều kiện thuên lợi cho họ có cơ hội tim kiểm công việc mới Điều 35 Hiến pháp nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm. “Công đân có quyền được đầm bảo an sinh xã hội”. An sinh xã hội là mục tiêu, chính sách phát triển của mỗi quốc gia nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ đảm bao quyển tiếp cân các nguồn lực đây đủ trong đó có quyển được BHTN.
Do đó, dưới góc đô nhân quyển, quyển được BHTN lả quyển con người cén được quan tâm, đảm. Thực chất, đây là quyên lợi riêng nhưng được toản thé sã hội chung tay bù dip. Điều 25 Tuyên ngôn vé nhân quyển của Liên hợp quốc thông qua năm. 1948 khẳng định: “Mỗi người có quyền có một mức sống cần thiét cho việc giữ gin sức khỏe bản thân và gia đình có quyên được bảo đâm trong trường hop thắt nghiệp”.
Quyền được có việc lam, được làm việc va bão vệ chong thất nghiệp lä một trong những quyển cơ bản của con người. Nó không những đã được ghi nhận trong pháp luật quốc tế từ rat lâu má côn được quy định ở ‘hau hết pháp luật các quốc gia. Dưới góc độ kinh tế - sã hội, BHTN được hiểu là giải pháp nhằm khác. phục hậu quả của tỉnh trạng thất nghiệp, giúp người thất nghiệp tam thời đăm.
bão được cuộc sing và tim kiếm việc lêm thông qua việc tạo lập va sử dụng một quỹ tiễn tế tập trung, Quỹ này được hình thành qua sự đóng góp của NLB và người sử dụng lao đông (NSDLĐ) có sự hỗ trợ của nha nước, được sit dung để tả trợ cấp thất nghiệp (TCTN) cũng như tién hành các biện pháp nhằm nhanh chóng giúp người thất nghiệp cãi thiên cơ hội việc làm, sớm trở lại với thi trường lao đồng, Dưới góc đô pháp lý, BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ 2 hội hình thảnh trong qua trinh xây dựng và sử dụng quỹ BHTN, chi trả TCTN để bù đắp thu nhập cho NLD bi mắt việc lâm và thực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lai lam việc. BHTN vì thé được coi là một chế độ trong hệ thông các chế độ BHXH, có mục đích hỗ trợ thu nhập cho NLĐ bị mắt thu nhập do thất nghiệp. Tuy nhiên, đó chỉ là cách nhìn nhận về BHTN ở từng khía cạnh của đời sống xã hội. Ở Việt Nam, lần đâu tiên khái niêm BHTN đã chính thức được 10 quy định trong Luật việc lam năm 2013 như sau: “Báo hiểm rhất nghiệp là ch lộ nhằm bù đắp một phân thu nhập của người lao động khi bị mit việc làm, hỗ trợ người lao động học nghé, duy trì ic làn, tim việc làm trên cơ sở đóng vào quj bảo hiểm thất nghiệp”.
"Từ khái niệm trên cho thấy BHTN la công cu bao vệ quyển và lợi ich của NLD một cách hữu hiệu, nó không chi là biên pháp giải quyết hâu quả của thất nghiệp một cách thụ động ma còn là mét chính sách của thí trường lao động nhằm tích cực xóa bô bớt di tinh trang thất nghiệp. Thông qua việc xây dựng vả van hành quỹ tải chính tập trung có sự tham gia của các chủ thể trong thi trường lao động, BHTN đã được hình thành với hai mục đích: Đảm. bảo đồi sống vật chất cơ bản cho người thất nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định sau khi họ mắt việc lam và cung cấp một chế độ hỗ trợ để người thất nghiệp có thể nhanh chóng tim được việc làm mới cho bản thân qua các hoạt đông như: giới thiệu, tư vẫn việc làm, tải dao tạo, chuyển đổi nghề nghiệp. Như vay, BHTN không chỉ trao cho NLB “con ca” ma còn.
cung cấp cho ho "cân câu” để họ tự xây dựng cuốc sống trong lương lai. Bên cạnh dé, BHTN còn đóng vai tro quan trọng đổi với doanh nghiệp và Nha nước trong việc gidi quyết những vấn dé xã hội. Nhờ có BHTN, khi NLD bi mit việc, chủ doanh nghiệp không tốn phí trợ cấp thôi việc cho NLB nên họ sẽ tiết kiệm chi phí va chủ đông trong sử dụng nguồn lao động, tao động lực phát triển sản xuất. Cũng nhờ có BHTN ma gánh nặng ngân sich của Nha nước được giảm bớt khi có thất nghiệp xy ra Khai niêm vẻ BHTN trong Luật việc lam năm 2013 của Việt Nam so với tiêu chuẩn của Công ước số 102 của ILO về cơ bản đã tương đối toàn.
điền, thể hiện được bản chất của BHTN. Luật việc làm ra đời là một bước tiến. mới của BHTN ở Việt Nam u 1. Đôi tượng tham gia bao hiém thất nghié Chế đô BHTN được xây dựng nhằm bao vệ quyén lợi của NLD phòng rủi ro khi họ mất việc làm Tuy nhiên, không phải mọi NLD đều biết đến chế độ nảy để có thể chủ động tham gia va trong nhiều trường hợp, NSDLĐ.
không muốn tham gia BHTN cho NLD vi về cơ bản, NSDLĐ không nhận. được bat kỹ lợi ích nào. Do đó, để bao về cho NLD, pháp luật quy định đổi tượng bắt buộc phải tham gia BHTN (theo quy định tại Điều 43 Luật việc làm. nm 2013) gồm có: Mét là.
NLD khi làm việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ) hoặc hợp đẳng làm việc (HBLV), gồm có: (1) HBL hoặc HĐLLV không xác định thời hạn, (2) HĐLĐ hoặc HĐLLV xác định thời han; (3) HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng Khodn 1 Điều 3 Luật việc lam giải thích: NLD la công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu câu lam việc. Do đó có thể thấy tất ca công dân Việt Nam, từ đủ 15 tuổi trở lên, tham gia vào thị trường. lao đông có HDLD từ tối thiểu 03 tháng trở lên đều có quyền và nghĩa vụ. tham gia BHTN.
Tuy nhiên, Luật đã loại trừ 02 trường hợp NLD không phải tham gia BHTN gồm (1) NLD giúp việc gia đình, (2) NLĐ đang hưởng lương hưu, trợ cấp mat sức lao động hang tháng. (Giúp việc gia dinh là loại hình lao động ma sự tham gia bảo hiểm đất ra nhiên vẫn để nan giải nhất về mat quản lý cũng như tải chính Ba số những người nay được tuyển dung để làm công việc nội trợ trong nha, không phục vụ. mục đích kinh doanh thu lợi nhuận, chủ nhân thường là một gia đính chỉ thuê "mướn một người làm. Vi vay ma việc quản lý đối tượng này rất khó khăn, tồn kém chỉ phí và khó sắc định thời điểm bắt đâu that nghiệp thực sự của họ.
Do đó, đến thời điểm hiện tại, đây vẫn đang là đối tượng loại trừ của BHTN do. những vướng mắc, bắt cập về khâu quan ly còn chưa giải quyết được. 2 Đổi với nhóm NLD dang hưởng lương hưu, trợ cấp mắt sức lao động, hàng thang dy là nhóm NLD có điểu kiện sức khöe không côn đăm bão cho việc tham gia vào thi trường lao đông, nhưng đang được hưởng chế đồ lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động hang tháng để dim bão cuộc sống nên nhóm nay cũng thuộc đổi tương loại trừ của BHTN. Hat id, NSDLĐ tham gia BHTN bao gồm: cơ quan nha nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, lỗ chức xã hội — nghề nghiệp, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt đông trên.
lãnh thé Việt Nam, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức. khác và cá nhân có thuê mướn, sử dung lao động theo HĐLV hoặc HDLD (bao gém: HBLD xác định thời han, HĐLĐ không sác định thời han, HDLD mùa vu hoặc theo mốt công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng dén đười 12 tháng) Khác với đối tượng NLD bắt buộc phai là công dan Việt Nam, NSDLD không chỉ bao gém các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong nước ma còn. ‘bao gồm cA những tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài hoạt đông tại Việt Nam. và có HĐLĐ hoặc HĐLAV với NLD Việt Nam Để tránh việc chồng chéo va trồn tránh trách nhiệm của NSDLD với những trường hop NLD cùng lúc tham gia mỗi quan hệ với nhiêu NSDLĐ, Luật việc lam quy định: “Trong trường hợp người lao động giao két và đăng thực hiện nhiều hợp đằng lao đông quy ainh tại khoản này thi người lao động và người sit dung lao đông của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bão hiém that nghiệp ”.