Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động tái bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật của Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ Chương II: Thực trạng hoạt động Tái bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm Tài sản - kỹ thuật tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành (giai đoạn 2014 – 2018). Chương III: Giải pháp hoàn thiệncông tác Tái bảo hiểm nghiệp vụ Tài sản - kỹ thuật tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành.[WU3] Mặc dù em đã cố gắng nhiều, song do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn hẹp nên chắc chắn luận văn của em không thể tránh khỏi những thiếu sót, bất cập. Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến góp ý từ các thầy, cô giáo. Nhân đây, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo Nguyễn Thị Hải Đường cùng các anh, chị em phòng Tái bảo hiểm - Tổng công ty Cổ phần Bào hiểm Xuân Thành đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
[WU4] Hà Nội - 10/2019 Học viên: Đỗ Mỹ Linh 4 CHƢƠNG1: CƠ SỞ LÝ LUẬNVỀ HOẠT ĐỘNG TÁI BẢO 1 HIỂM NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TÀI SẢN KỸ THUẬT CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1. Khái quát về bảo hiểm Tài sản – Kỹ thuật 1. Khái niệm Vào thế kỷ 17, tại các thành phố đông đúc ở Châu Âu, nhà cửa chủ yếu được dựng bằng gỗ và lửa được dùng nhiều để sưởi ấm, chiếu sáng… Do vậy, rủi ro cháy là rất cao, đòi hỏi sự ra đời của các công ty bảo hiểm cung cấp các dịch vụ cứu hoả và bồi thường thiệt hại xảy cho người được bảo hiểm khi xảy ra cháy. Sau đám cháy khủng khiếp ở thủ đô London kéo dài 5 ngày (năm 1666), những công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên đã xuất hiện ở Anh như: The Fire Office, Friendly Society Fire Office.
Sau đó, một loạt các công ty bảo hiểm cháy khác tiếp tục ra đời ở Anh: Amicable (1696), Sun (1713), Union (1714), London (1714)… Sau đó, bảo hiểm cháy mở rộng ra các nước khác trên lục địa Châu Âu: ở Đức năm 1667, Pháp năm 1686. Sang thế kỷ 18, nhiều công ty bảo hiểm hoả hoạn nổi tiếng ở Mỹ cũng ra đời. Vào giữa thế kỷ 19, nền công nghiệp Anh phát triển và đó cũng là sự bắt đầu cho sự phát triển của bảo hiểm kỹ thuật, xuất phát từ việc kiểm tra nồi hơi. Vào thời gian này, đã xảy ra nhiều vụ nổ nồi hơi tại nhà máy bông ở LAUCSHINE.
Các vụ nổ nồi hơi đó có thể do nguyên nhân như: sai sót thiết kế, thiếu kinh nghiệm, hay các rủi ro đạo đức như: sử dụng nồi hơi quá công suất bình thường hoặc các tập quán, lề lối làm việc nhằm nâng cao năng suất. Đến năm 1854, một số người quan tâm đến việc sử dụng hơi nước MAN (Manchesrer Steam user„s Association). Hội viên của hiệp hội được quyền sử dụng các dịch vụ giám định nồi hơi do hiệp hội thuê, được tư vấn phòng ngừa các vụ nổ và được hướng dẫn các biện pháp sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm nhất các loại máy móc. Ngày nay, những quy định đó vẫn được duy trì, chủ các nhà máy có thể yêu cầu các kỹ sư giám sát tư vấn và gợi ý về việc vận hành, bảo dưỡng máy móc.
5 Tuy nhiên, các dịch vụ của hiệp hội vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các chủ nhà máy. Năm 1858, một số hội viên đã thành lập công ty bảo hiểm cho nồi hơi đầu tiên, đây là tiền đề cho bảo hiểm kỹ thuật ra đời. Ban đầu người ta chỉ bảo hiểm cho nồi hơi, nhưng sau đó phạm vi bảo hiểm đã mở rộng cho các loại dẫn áp suất khác. Vào đầu thế kỷ 20, đơn bảo hiểm đầu tiên cho việc mất thu nhập do đổ vỡ máy móc đã được cấp cùng thời điểm này, đơn bảo hiểm lắp đặt (bảo hiểm cho việc lắp đặt máy móc công trường) đã xuất hiện.
Đơn này thuộc loại đơn có xác định rủi ro và không bảo hiểm cháy nhưng nó đã đưa ra được sự bảo hiểm cho các dự án lắp đặt vừa và nhỏ. Đơn bảo hiểm lắp đặt được triển khai vào những năm 1920 - 1930 dựa trên đơn bảo hiểm các toà nhà dân dụng. Tuy nhiên, phải đến sau chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, các nước bước sang giai đoạn tái thiết đất nước, loại đơn này mới được chuẩn mực như hiện nay. Theo Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm.
Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000) quy định: "Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm". Bảo hiểm tài sản kỹ thuật là loại hình bảo hiểm cho những tài sản về nhà xưởng, máy móc, hàng hóa, các công trình xây dựng, lắp đặt cũng như bồi thường cho những tổn thất hoặc thiệt hại về vật chất ngẫu nhiên bất ngờ và không lường trước được đối với tài sản được bảo hiểm và gây ra bởi những nguyên nhân không bị loại trừ theo quy tắc bảo hiểm. Khi xảy ra rủi ro tổn thất về tài sản như mất mát, hủy hoại về vật chất, người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được 6 bảo hiểm căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế và mức độ đảm bảo thuận tiện hợp đồng. Bảo hiểm Tài sản - Kỹ thuật là loại hình bảo hiểm ra đời song song với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật.
Từ sản phẩm đầu tiên là bảo hiểm cho rủi ro cháy lần đầu tiên được biết đến vào năm 1667, ngày nay kinh doanh bảo hiểm Tài sản kỹ thuật đã phát triển, nhân rộng và đa dạng hóa với hơn 40 sản phẩm được biết đến trên hầu hết các Quốc gia trên thế giới. Đặc điểm Là một nghiệp vụ bảo hiểm lâu đời và chiếm tỷ trọng chủ yếu của hầu hết các công ty bảo hiểm, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, bảo hiểm tài sản - kỹ thuật mang đầy đủ các đặc điểm của một loại hình bảo hiểm điển hình; đồng thời cũng có những đặc điểm riêng: - Các loại tài sản được bảo hiểm được quy định tại điều 40 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000: “ Đối tượng của Hợp đồng bảo hiểm Tài sản là tài sản, bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”; - Đối tượng bảo hiểm đa dạng; phạm vi bảo hiểm rộng và các sản phẩm bảo hiểm tài sản - kỹ thuật rất phong phú; - Chỉ thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm khi xác định được giá trị tài sản. Giá trị bảo hiểm có thể tương đương, cao hơn hoặc thấp hơn giá trị tài sản; - Phương pháp tính giá trị tài sản có thể là giá trị thị trường của tài sản hoặc giá trị ước tính do các bên thỏa thuận; - Số tiền chi trả của công ty bảo hiểm đối với tài sản được bảo hiểm dựa trên nguyên tắc bồi thường. Giá trị bồi thường bao gồm giá trị tổn thất của tài sản, chi phí hợp lí để đề phòng hạn chế tổn thất, chi phí phát sinh theo chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm và chi phí giám định thiệt hại.
Phương pháp bồi thường có thể được thực hiện bằng tiền mặt, sửa chữa khôi phục hoặc thay thế mới hoàn toàn theo thỏa thuận và hợp đồng giữa các bên. Các nghiệp vụ bảo hiểm Tài sản – Kỹ thuật Bảo hiểm Tài sản - Kỹ thuật có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh tế, xã hội trên toàn thế giới. Từbảo hiểm cho máy móc sản xuất, nhà xưởng, 7 hàng hóa, cho tới bảo hiểm các công trình xây dựng khổng lồ như bến cảng, sân bay, hay lắp đặt các dàn khoan trên biển,. Thông thường, bảo hiểm Tài sản - kỹ thuật bao gồm các loại chính như sau: * Bảo hiểm Cháy nổ bắt buộc * Bảo hiểm Hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt * Bảo hiểm Mọi rủi ro tài sản * Bảo hiểm Gián đoạn kinh doanh * Bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp * Bảo hiểm Hỏa hoạn nhà tư nhân * Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng.
* Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt. * Bảo hiểm máy móc thiết bị chủ thầu * Bảo hiểm đổ vỡ máy móc. * Bảo hiểm công trình dân dụng hoàn thành * Bảo hiểm thiết bị điện tử. Vai trò của Tái bảo hiểm đối với Bảo hiểm Tài sản – Kỹ thuật a) Đối với công ty nhượng tái bảo hiểm Nói chung, TBH không làm thay đổi bản chất vốn có của phạm vi bảo hiểm.
Trong dài hạn, nó không thể khiến công việc kinh doanh xấu trở thành tốt, nhưng nó sẽ cung cấp sự trợ giúp đắc lực cho nhà nhượng tái. Nhận bảo hiểm cho những rủi ro vượt quá khả năng giữ lại: Sau khi thu xếp TBH, công ty nhượng có thể nhận những hợp đồng có giới hạn bảo hiểm lớn hơn những vẫn duy trì được những độ rủi ro trong phạm vi quản lý được. Bằng cách tái đi một phần của mọi hợp đồng hoặc chỉ tái đi những hợp đồng lớn, mức tổn thất giữ lại ròng tính theo từng đơn bảo hiểm hay toàn bộ số đơn có thể được tính toán phù hợp với thặng dư vốn của công ty bảo hiểm. Tạo ra sự ổn định trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm: Theo thời gian, TBH giúp ổn định kết quả tài chính và hoạt động khai thác của công ty nhượng TBH.
Đồng thời, bảo vệ nguồn vốn thặng dư trước các cú sốc gây ra do các tổn thất 8 lớn không lường trước được. TBH cũng được thu xếp nhằm giữ lại các các tổn thất nhỏ, dễ dự đoán và chia sẻ những tổn thất lớn, bất ngờ cho các công ty bảo hiểm và TBH trên toàn thị trường. Ngoài ra, TBH còn giúp bảo vệ công ty bảo hiểm gốc khỏi các rủi ro tích tụ lớn hơn dự đoán cũng từ một hay nhiều thảm hoạ.