Chương 1 KHÁI QUAT CHUNG VE BẢO HIEM Y TE VA PHAP LUAT BAO HIEM Y TE 1. Khai niém bao hiém y té Ai sinh ra va lớn lên cũng đều mong muốn có một thé lực tốt, không ốm đau. không bệnh tật. Nếu được như vậy thì đó cũng chính là sự may mắn nhất trong cuộc đời con người.
rất hiém ai có sự may mắn đó bởi cuộc đời mỗi con người khó tránh khỏi những lúc 6m đau. bệnh tật thậm chí là rủi ro tai nạn. nhu cầu được chăm sóc, khám chữa bệnh (KCB) trở thành nhu cầu cấp thiết, không hề có sự lựa chọn. Song một vấn đề đặt ra là khi các sự kiện đó nảy sinh, bản thân người đó không chỉ bị giảm (hoặc mắt) thu nhập do không thể tham gia quan hệ lao động mà còn phải trả một khoản tiền nhất định cho việc khám chữa.
điều trị bệnh và chăm sóc sức khỏe. người ốm đau đã khó khăn về tài chính lại càng khó khăn thêm khi phải chi trả các chi phí y tế. Đặc biệt đối với những người bị mắc bệnh hiểm nghèo hoặc điều trị dài ngày thì khó khăn về tài chính là vấn dé hầu hết họ đều mắc phải. Trong 1] Phép luật BHYT mộtsố quéc gia trên thé giói và những kính nghiên cho Viet Nam những trường hợp đó.
nhiều người vì không có khả năng tài chính đã buộc phải chấp nhận sự chăm sóc y tê ở mức hạn chê, tối thiểu. thậm chí là sống chung với bệnh tật. Vì vậy, để vượt qua những khó khăn cũng như dé ton tại và phát triển. con người đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau và một trong những cách được coi là tốt nhất, chính là tham gia BHYT bởi đây là một loại hình hoạt động có tính nhân văn sâu sắc nhăm góp phần chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân.
BHYT xuất hiện đầu tiên dưới hình thức bảo hiểm 6m đau và thương tật cho công nhân của các chủ doanh nghiệp. Tại lây Au, vào thời kỳ Trung cỗ, một số các hiệp hội đã tu nguyện hỗ trợ các thành viên của mình trong thời gian có nhu cầu y tế. Do tính chất hạn chế về chăm sóc y té nén hau hét cac hé tro tai thoi điểm đó là hình thức hỗ trợ thu nhập. Tuy nhiên, đến giữa thế kỷ XIX, các nước Tây Âu đã hình thành rất nhiều hiệp hội cung cấp BHYT.
trong đó có áp dụng quy tắc liên kết trên cơ sở của nghề nghiệp. những người khác nhau về nơi làm việc, nơi cư trú, hoặc thậm chí cả dân tộc. Ví dụ, năm 1885 Thụy Điển đã có hàng chục các quỹ ốm đau với sự tham gia của khoảng 10% dân số.239 quỹ 6m đau được chính thức công nhận, khu vực được bảo hiểm là 869. Sự biến đổi của các hiệp hội tự nguyện vào hệ thong BHYT quốc gia rộng lớn được thúc đây bởi bối cảnh chính trị, liên quan đến cuộc 2 Governing mandatory health insurance: Learning from experience/Ed.
Savedoff, Pablo Gottret - Washington, D.C: The World Bank, 2008. Tổng quan về pháp luật bảo hiển yee dau tranh giữa người su dụng lao động, các nhóm lao động và Nhà nước. Thế kỷ XIX đánh dấu quá trình công nghiệp hóa đã biến đối xã hội châu Au, dẫn đến sự tăng trưởng của tổ chức người lao động. Điều này đã khiến cho giới cam quyền phải thay đổi các chính sách cho người lao động chăng hạn như tuần làm việc ngăn hơn.
bảo hiểm thất nghiệp. lương hưu và bảo hiểm về sức khỏe được thực hiện. Điển hình là năm 1850 tại Đức dưới thời Thủ tướng Bismarck (1815 - 1898) đã ban hành chính sách BHYT bat buộc. Có thé nói đây là hình thức BHYT đầu tiên trên thế giới và nó được hình thành trong mô hình bảo hiểm xã hội (BHXH).
Lúc đầu BHYT chỉ được áp dụng cho những người lao động trong các trường hợp ốm đau do rủi ro, bệnh tật. Nhưng sau vì những hữu ích và tác dụng của nó mà phạm vi đối tượng của | BHYT đã ngày càng được mở rộng. BHYT không chỉ được áp dụng cho người lao động mà đã được mở rộng ra cho mọi thành viên trong xã hội. Mô hình BHYT của Dire dan dan đã được lan rộng ra khắp các quốc gia và được coi là biện pháp bảo vệ hữu hiệu trước những rủi ro bệnh tật.
Mặc dù mô hình BHYT của Đức chưa mang tính pho quát nhưng nguyên tắc của việc tham gia giữa chính phủ với người sử dụng lao động. người lao động và các hiệp hội trung gian được hình thành từ đó. Các quốc gia khác theo mô hình BHYT bắt buộc cũng bắt đầu nổi lên thời đó như: Bỉ (1894). Sự hỗ trợ của các chi phi chăm sóc y tế ở thời ky này có thé nói mới chi đạt ở mức độ nhất định.
Tuy 13 Phép lật BHYT một số quốc gia trên thé gái và những kinh nghiém cho Viet Nam nhiên. tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và sự phát triển của thị trường lao động đã khiến các nước Tây Âu dan dân - mở rộng phạm vi bảo hiểm cho người lao động cũng như độ bao phủ. Quyền lợi BHYT cũng dần được mở rộng, từ việc xử lý các sự kiện cấp tinh cho đến việc tham van chăm sóc sức khỏe ban dau và thuốc. Tuy BHYT ra đời vào thế kỷ XIX nhưng định nghĩa về BHYT đã xuất hiện từ thế kỷ XVII.
Định nghĩa đầu tiên về BHYT được đưa ra năm 1694 bởi Hugh the Elder Chamberlen (1630 - 1720). Theo ông: “BHYT là hình thức chỉ trả chi phí y té cho người được bao hiểm tính trên rủi ro sức khỏe đã được thỏa thuận khi mua bảo hiểm và số tiền chi trả chi phí y tế phải cân đối với số phí BHYT mà những người tham gia bảo hiểm đóng góp ””. Đây là cách định nghĩa BHYT theo bản chất kinh tế. BHYT được hiểu là sự hợp nhất kinh tế của các cá nhân trước rủi ro do bệnh tật gây nên mà trong từng trường hợp cá biệt không thể tính toán trước và dự liệu được.
Nhưng sự đóng góp chung này cần phải được đáp ứng băng nguồn tài chính được dự tính một cách thỏa đáng thông qua hệ thống cân bằng rủi ro tương ứng do BHYT đứng ra tổ chức thực hiện. Tổng chi phí cho KCB phải luôn bằng hoặc nhỏ hơn tổng số tiền đóng góp của những người tham gia BHYT. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì cho răng BHYT là một bộ phận cấu thành của hệ thống an sinh xã hội (ASXH) * Inc Icon Group International, 2008. Tổng quan về pháp luật bảo hiểm y tế quốc gia có mục đích chung là bảo vệ cuộc sống các thành viên xã hội.
Theo Công ước số 102 của ILO - Công ước quy định những quy chuẩn tối thiểu về ASXH thì ASXH là: “. /ờ sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua hàng loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại tình cảnh khốn khó vẻ kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trang bị ngừng hoặc giảm sút đáng ké vé thu nhập do ôm đau, thai sản, thương tat trong lao động, thất nghiệp, tàn tát, tuổi gid, tir vong, sự cung cấp về chăm sóc y té và cả sự cung cáp các khoản tiên trợ giúp cho các gia đình đông con” Như vậy, theo Công ước 102 của ILO, chăm sóc y tế là nội dung được dé cập đầu tiên trong 9 chế độ trợ cấp thưộc hệ thông ASXH. Vấn đề ở chỗ giữa BHYT và chăm sóc y tế có đồng nhất về khái niệm. nội dung hay không? Qua các tài liệu nghiên cứu và điều tra tình hình thực hiện ASXH trên thế giới của ILO cho thấy, chăm sóc y tẾ CÓ phạm vi nội dung rộng hơn BHYT.
Nội dung chăm sóc y tế không chỉ dừng lại ở chế độ bảo hiểm cho các thành viên trong xã hội mà còn bao gồm các hoạt động y tế công cộng khác nhăm mục đích chăm lo và bảo vệ sức khỏe toàn dân. BHYT mang nhiều nét tương đồng song không bao quát hết mọi nội dung của chăm sóc y tế. Ở hau hết các quốc gia, BHYT thông thường chỉ thực hiện chủ yếu với các hoạt động KCB (nội, ngoại trú) và một số chế độ ' Công ước số 102 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thông qua ngày 28/6/1952 ; “Social Security Programs Throughout the World" — Social Security Administration, ILO, 1999. lộ và những kính nghiém cho Viet Nam Pháp luật BHYT một số quốc gia trên thé giới bổ sung mà không bao gồm các dịch vụ như tiêm chủng phòng bệnh.
chỉnh hình, tạo hình thầm my, chữa trị các dị tật bẩm sinh. Thực tế, do điều kiện kinh tế xã hội và nhận thức ở các quốc gia khác nhau mà khái niệm chăm sóc y tế có thê được đồng nhất với BHYT. ở một số nước khác thì lại được hiểu là dịch vụ chăm sóc sức khỏe công, được thực hiện miễn phi, do ngân sách nhà nước đài thọ. Có nước lại coi cham sóc y tế bao ham cả BHYT và các dich vụ chăm sóc sức khỏe công.
Thậm chí có một số quốc gia lại quy định BHYT bao gom cả chế độ KCB, chế độ 6m dau, chế độ thai sản cho người lao động (vì có cùng phương thức hoạt động và nguyên tắc thực hiện). Vì vậy, việc xác định vị trí độc lập hay không của BHYT trong hệ thống các chế độ BHXH hay hệ thống ASXH của các quốc øia khác nhau phụ thuộc rất nhiều vào đặc thù riêng của từng quốc gia. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng xác định BHYT có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Trong tuyên bố Alma-Ata năm 1978 “strc khỏe cho mọi người”, WHO quan niệm “BHYT là loại hình bảo hiểm không kinh doanh, không vì mục đích lợi nhuận và được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ quyên con người ".
Cách tiếp cận về BHYT của WHO hiện nay được hầu hết các quốc gia thống nhất. tùy thuộc vào điều kiện của mình mà các quốc gia có cách thức tổ chức thực hiện phù hợp. Theo quan điểm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (Organisation for Economic Development - OECD), thì 16 Phan I. Tong quan về pháp luật bo hiểm v tế BHYT có thể được định nghĩa như là một cách để phân phối các rủi ro tai chính liên quan tới sự thay đối chi phí chăm sóc sức khỏe cá nhân băng cách tong hop chi phi theo thoi gian thông qua thanh toán trước (OECD, 2004).
Để phân loại các mô hình BHYT.