Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VE HOP DONG VÀ MỘT SO ĐẶC TRƯNG CƠ BAN VE HOP DONG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT TRUNG QUÓC 1. Khái quát chung về hợp đồng 1. Quan niệm về hợp đồng và luật hợp đồng Xuyên suốt chiều dai lịch sử, hợp đồng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dưới nhiều tên gọi khác nhau như thỏa thuận, khế ước, giao kẻo, thỏa ước, ước định, hiệp ước [1, tr. Đồng dạng, khái niệm về hợp đồng cũng được định nghĩa với các quan điểm không giống nhau trong từng thời kỳ khác nhau.
Vào thời kỳ La Mã cỗ đại, các nhà làm luật La Mã quan niệm “hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập nghĩa vụ” [1, tr. 45]; tại đây hop đồng được xác định thông qua thỏa thuận và nghĩa vụ giữa các bên. Tiếp thu và phát triển những thành tựu trong hệ thống pháp luật La Mã cô đại, tại Bộ luật Napoleon (Bộ Dân luật Pháp ban hành năm 1804), Điều 1101 định nghĩa “Hợp đồng là sự thỏa thuận theo đó một hoặc nhiều "người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào do” [1, tr. 11], tại Bộ luật này, hợp đồng được xác định một cách chỉ tiết hơn là sự thỏa thuận mà trong đó là các cam kết về các nghĩa vụ cụ thê.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, ngày nay các hệ thống pháp luật phố biến trên thế giới như hệ thống thông luật, hệ thống dân luật cũng có các quan niệm bất đồng về hợp đồng. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, nhu cầu trao đổi, phối hợp trong hoạt động của con người cũng ngày càng gia tăng, nhằm đáp ứng và thỏa mãn những nhu cau của tổ chức, cá nhân trong giải quyết công việc của mình. Nhu cau trao đôi đó ra đời từ rất sớm trong lich sử như trao đồi sản phẩm này lay sản phẩm khác hay trao đôi “vat này” lay “vật khác” và ở đó đã hình thành quan hệ “hàng đổi hàng”. Theo Các Mác: “Ty chúng, hang hóa không thé đi đến thị trường và trao đổi với nhau được.
Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chi nằm trong các vật đó” [12]. Quan hệ này ngày càng phát triển, khi xuất hiện tiền tệ trong xã hội, tiền đã trở thành đối tượng trung gian trong quan hệ trao đổi đó, việc trao đôi “tiền - hàng” đã góp phan thúc day quan hệ dân sự dé dàng, thuận lợi thông qua những “hợp đồng dân sự”. Cùng với hợp đồng dân sự, nhiều hoạt động phối hợp, kết hợp, cung ứng dịch vụ xuất hiện với các phương thức rất phong phú đa dạng như mua bán, thuê khoán, hợp đồng vận chuyển hàng hóa, vận chuyên hành khách. và được thiết lập thông qua hình thức hợp đồng, hình thức nội dung của những giao kết hợp đồng đó dần được “luật hóa” và phát triển trong các ngành luật như Luật dân sự, Luật kinh tế, Luật lao động.
với các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong đời sống xã hội. Như vậy, hợp đồng xuất hiện khá sớm trong lịch sử nhân loại, hợp đồng có vai trò trong việc bảo đảm để các quan hệ giữa các bên tham gia được thực hiện, thỏa mãn nhu cầu hợp tác trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của xã hội và hợp đồng cũng đóng vai trò thúc day kinh tế - xã hội phát triển. Hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên trong thực hiện các cam kết thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình và ngược lại, nếu một trong các bên vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng các cam kết mà các bên đã cùng nhau thỏa thuận thi họ sẽ phải gánh chịu trách nhiệm (hậu quả), nó thê hiện sự ràng buộc đối với các bên tham gia giao kết hợp đồng. Pháp luật về hợp đồng được hiểu là tổng thé các quy định pháp luật quy định về nguyên tắc, điều kiện, thời hiệu, thời hạn.
quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng. Cụ thể là khi cam kết thực hiện những thỏa thuận với nhau, các bên cần nhận thức và phải xác định rõ các yếu tố về điều kiện, chủ thể tham gia và trách nhiệm của mỗi bên khi vi phạm cam kết đã cùng nhau thỏa thuận; sự thừa nhận cùng với nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện. Trong trường hợp một bên vi phạm thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý (hậu quả pháp lý) được pháp luật quy định để điều chỉnh quan hệ xã hội mà các bên giao kết hợp đồng. Do đó, luật hợp đồng là luật “lién quan đến cái sẽ có.
Khi một người dua ra lời hứa roi lại không giữ loi, luật hợp đông sẽ bắt người đó trả giá bởi người đó đã không mang lại cái trạng thái tương lai mà lời hứa đã ràng buộc là người đó phải mang lại” [9, tr. Khi đề cập đến hợp đồng, trước hết chúng phải được hiểu đó là những thỏa thuận được trao đôi, thống nhất giữa các bên và chỉ những nội dung thỏa thuận được thiết lập, ghi nhận, trong hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hợp đồng mới được xác định là hợp đồng. Quan niệm về hợp đồng, tác giả Jay M, Feinman cho rằng: “Hợp dong là co chế mà nhờ đó xã hội vận hành và luật hợp dong duoc coi như một loại dau nhờn dé lam cho cơ chế đó vận hành tốt hơn” [9, tr. Những quan hệ hợp đồng đó được thiết lập khi có sự tham gia của các bên chủ thê (có năng lực pháp luật) và chịu sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật đối với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
Chính vì vậy, nên các hình thức hợp đồng với những nội dung, mục đích ngày càng phong phú, đa dạng, nhiều loại hợp đồng phát sinh đã thé hiện vai trò quan trọng của nó trong xã hội, góp phần bao đảm để nhà nước quản lý có hiệu quả đối với các hoạt động trên các lĩnh vực của đời song xã hội, bảo đảm loi ich nhà nước, nhất là quyền, lợi ích hợp pháp, thỏa mãn nhu cầu chính đáng của tổ chức, cá nhân; thúc đây sự phat triển của kinh tế - xã hội. Đến nay, có khá nhiều định nghĩa về hợp đồng, song dù hợp đồng được tiếp cận ở góc độ học thuật hay góc độ pháp lý thì đều có sự thống nhất quan niệm về sự thỏa thuận, tự do ý chí sự tham gia của các bên chủ thể và cam kết thực hiện quyền, nghĩa vụ được ghi nhận trong hợp đồng. Chang hạn, Điều 385 Bộ luật Dân su năm 2015 của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đưa ra định nghĩa: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đôi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Theo Từ điển Deluxe black’s Law thì “Hop đồng là một sự thỏa thuận giữa hai hay nhiễu người mà tạo lập nên một nghĩa vụ làm hoặc không làm một việc cụ thể” [30] và “Hợp dong là một sự hứa hen hoặc một tập hop sự hứa hẹn ma đối với việc vi phạm nó, pháp luật đưa ra một chế tài, hoặc đối với việc thực hiện nó, pháp luật một trong số phương điện, thừa nhận như là một trách nhiệm” [30].
Bộ luật Dân sự Pháp định nghĩa: “Hop đông là sự thỏa thuận theo đó một hay nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó ” (Điều 1101 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804). Tại Điều 420 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga đưa ra định nghĩa: “Hợp đồng được thừa nhận như một thỏa thuận được giao kết bởi hai hoặc nhiều người về việc phát sinh, thay đổi hoặc cham dứt các quyền và nghĩa vu dân sự”. Theo pháp luật Canada thì: “Hop dong là một sự thỏa thuận của các y chí mà bởi nó một hoặc một số người tự ràng buộc mình với một hoặc một số người khác dé thực hiện một cam kết" (Điều 1378 Bộ luật Dân sự Quescbec, Canada). Từ những quan niệm và dưới góc độ pháp lý thì hợp đồng đều được thé hiện thống nhất từ những thỏa thuận, cam kết, hứa hẹn giữa các bên chủ thé tham gia nhằm thực hiện các cam kết, thỏa thuận có tính chất ràng buộc trách nhiệm về quyên, nghĩa vụ của mình.
Do đó, hợp đồng được xác định là một chế định pháp lý (pháp luật về hợp đồng) bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật (bắt nguồn từ Bộ luật Dân sự) để điều chỉnh các quan hệ pháp luật giữa các bên chủ thể mang quyền, nghĩa vụ với nhau khi xác lập, giao kết hợp đồng theo quy định của Luật hợp đồng và các quy định pháp luật khác có liên quan đến hợp đồng (hoặc được quy định trong Luật dân sự và luật riêng - Luật chuyên ngành) thuộc một lĩnh vực cụ thé như kinh doanh, lao động. Đặc điểm của hợp đồng Xuất phát từ bản chat của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên tham gia giao kết hợp đồng. Đó là sự thỏa thuận, tham gia của các bên có thê là cá nhân với cá nhân, cá nhân với pháp nhân hoặc các pháp nhân dân sự với nhau nên hợp đồng theo pháp luật Việt Nam có các đặc trưng cơ bản sau đây: Một là, hợp đồng là những giao dịch có bản chất dân sự, thiết lập trên sự tự nguyện thỏa thuận, bình dang của các bên chủ thé tham gia nhằm thiết lập quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật về hợp đồng điều chỉnh. Sự tự nguyện thỏa thuận, bình đăng về ý chí.
của các chủ thé được thé hiện ở các nội dung, điều khoản của hợp đồng. Trong đó, thỏa thuận là một đặc trưng không chỉ trong quan hệ pháp luật dân sự mà nó còn là nguyên tắc, là đặc trưng của hợp đồng; sự thỏa thuận được hiểu là hợp đồng phải chứa đựng yếu tổ tự nguyện khi giao kết các bên có thể trao đôi, đàm phán và đi đến sự thống nhất ý chí của các bên. Việc giao kết hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc tự nguyện, bình đăng, thiện chí, hợp tác, trung thực và 10 ngay thắng, tự do giao kết hợp đồng, nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Thỏa thuận được xác định là yếu tố quan trọng nhất và là đặc trưng của hợp đồng so với các giao dịch dân sự khác.