chương 1 và 4, tác giả đã phân tích các quy định của Công ước luật biển 1982 liên quan đến quyền chủ quyền của quốc gia ven biển trong thăm dò, khai thác, quản lý tài nguyên phi sinh vật, cụ thé là khoáng sản. Toàn bộ chương 6 là những phân tích về các van đề pháp lý liên quan đến trường hợp thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Một bài viết khác cũng phân tích Điều 82 Công ước luật biển 1982 liên quan đến nghĩa vụ của quốc gia khi khai thác tài nguyên tại phần thềm lục địa mở rộng là “The Revenue Sharing Scheme with Respect to the Exploitation of the Outer Continental Shelf under Article 82 of the United Nations Convention on the Law of the Sea —A Plethora of Entangling Issues—“ của giao su Kanehara Atsuko [154]. Trong phan đầu bài viết, tac giả đã đưa ra kết luận rằng, Điều 82 thực chat là một sự thỏa hiệp mang tính chính trị nhiều hơn là để cân bằng giữa chế độ pháp lý của thêm lục địa và Vùng.
Phan thứ hai của bài viết là những phân tích về nội dung của Điều 82 liên quan đến bốn vấn đề: Khi nào nghĩa vụ nộp các khoản đóng góp xuất hiện; những điều khoản bị chỉ trích, các cụm từ cần phân tích trong Khoản 2 Điều 82; so sánh tương quan giữa những khoản đóng góp của quốc gia ven biển với những lợi ích chung tai Vùng — di sản chung của loài người và cơ chế nào dé đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp của quốc gia ven biến. Trong cuốn sách “A hand book and the new law of the sea”, tác giả Reré — Jean va Depuy — Vignes [152] đã dành toàn bộ Phan II dé viết về thềm luc địa với các van đề: Mot là, quá trình ra đời của thêm lục địa trong luật biên quốc tế; hai là, bản chất kéo dài tự nhiên của lãnh thé đất liền của thềm lục địa và ba /à, quy chế pháp lý đối với nguồn tài nguyên trên thềm lục địa. Những phân tích của các tác giả được đưa ra trên cơ sở tuyên bố đơn phương của các quốc gia, những phán quyết có liên quan của cơ quan tài phán quốc tế và các quy định tương ứng trong Công ước luật biển 1982. Bài viết “The nature of continental shelf rights in international law” của giáo su Takeshi Minagawa [192] là một bài viết rất thú vị nghiên cứu về quy chế pháp lý của TLĐ liên quan đến quyền chủ quyền của quốc gia ven biên đối với tài nguyên tại vùng biển nay.
Nội dung của bài viết xoay quanh bốn vấn dé, thir nhát trong giai đoạn từ năm 1971 đến 1973, có tồn tại một tập quán nao trong luật quốc tế ghi nhận quyền chủ quyền của quốc gia ven biển trong thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong thềm lục địa hay không?; hi hai là nếu có tập quán như vậy thì quyền chủ quyền của quốc gia ven biển có bao gồm quyền thu thuế đối với những khoản thu nhập có được từ hoạt động khai thác tài nguyên tại vùng biển này không?; thir ba là quyền chủ quyền trong thăm dò, khai thác tài nguyên trong thềm lục địa được hiểu như thế nào và cuối cùng là mục đích của quy định về bảo ton trong Công ước được hiểu như thế nào. Cuốn sách “Sea — bed enrgy and minerals resources and the law of the sea” của tac giả E. Brown [100] gồm 3 tập, trong đó, tập 1 với tiêu đề The Areas within national jurisdiction viết về van đề khai thác, thăm dò nguồn năng lượng và tài nguyên phi sinh vật tại đáy biển của các vùng biển thuộc thâm quyền tài phán của quốc gia, chủ yêu là TLĐ. Trên cơ sở phân tích thực tiễn của một số quốc gia cùng những quy định của Công ước năm 1958 về thêm lục địa và Công ước luật biển 1982, cuốn sách đã đề cập đến bốn vấn đề: Ranh giới ngoài của TLĐ; các quy tắc áp dụng trong việc phân định TLĐ giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc tiếp liền; chế độ pháp lý của TLĐ, đặc biệt liên quan đến các quyền của quốc gia ven bién trong khai thác, thăm đò tài nguyên và các quy tắc giải quyết ô nhiễm phát sinh từ hoạt động thăm dò, khai thác.
Đồng tác gia Edward Duncan Brown[ 101], cuốn sách “Sea — bed Energy and Minerals: The Continental Shelf” (Volume 1) trước tiên đã khái quát qua trình phat triển của thềm luc địa. Tiếp đó, cuốn sách đã phân tích những quy định của UNCLOS về quy chế pháp ly của thềm lục địa, bao gồm cả những quyên của quốc gia ven biển đối với tài nguyên trên vùng biển này. Các công trình nghiên cứu về quy chế pháp lý của phan đáy bien nằm ngoài tham quyền tài phán của quốc gia ven biển và vấn đề khai thác tài nguyên trên phan đáy biển nằm ngoài thẩm quyền tài phán của quốc gia Bài viết “Deep seabed exploitation” của tac giả John Warren Kindt [153] đã phân tích van dé khai thác tài nguyên trên phan đáy biển nằm ngoài quyền tai phán của quốc gia ven biển trên hai phương diện, lich sử và pháp lý. Về lich sử, tac giả đã tái hiện lại những cuộc tranh luận giữa các quốc gia trước các quy định tại phần XI xoay quanh van đề ai được quyền khai thác tại đáy biển và cơ chế quản lý hoạt động 10 khai thác ra sao.
Về pháp lý, tác giả đã phân tích một số quy định của Công ước về việc khai thác tài nguyên tại Vùng trong mối liên hệ với các quy định của luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển. Cũng tiếp cận trên phương diện lich sử, có thé kế đến một số công trình khác như bài viết “An international regime for the sea — bed beyond national jurisdiction” của hai tac giả Thomas. Franck va Evan R. Chesler [123]; “Law of the sea — Deep seabed mining — United States Position in Light of Recent Agreement and Exchange of Notes with Five Countries Involved in Preparatory Commission of United Nations Convention on the Law of the Sea” cua hai tác gia Ga.
INT'L va CoMP. L[151]; “Law in the Making: A U niversal Regime for Deep Seabed Mining” cua tac gia Elliot L. Công trình tiếp theo là cuốn sách “The development of the regime for the seabed mining” của nhóm tác gia Shabtain Rosenne (Chu biên), Satya N. Nandan và Michael W.
Toàn bộ nội dung của phan thứ nhất là những quan điểm đối với phan đáy biển và tài nguyên trên đáy biển phía dưới biển cả hoặc nằm bên ngoài vùng biên thuộc lãnh thổ quốc gia trên cơ sở nội dung của nguyên tắc tự do biển cả. Phần thứ hai của cuốn sách đã tái hiện hoạt động của toàn bộ những Ủy ban đã được thành lập dé thảo luận những van đề liên quan đến phan đáy biển và tài nguyên bên ngoài vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia. Trong phan cuối cùng, các tác giả đã phân tích và đưa ra những bình luận về các nội dung pháp lý của phần thứ XI Công ước cùng những phụ lục liên quan. Trong bài viết “The common heritage of mankind: An adequate regime for managing the deep seabaed?”’, tac gia Edward Guntrip [131] trước tiên đã làm rõ quá trình phat triển của nguyên tắc di sản chung của loài người.
Trong phan tiếp theo, bài viết đã phân tích cụ thể dưới góc độ pháp lý và thực tiễn những nội dung của nguyên tắc di sản chung của loài người được Công ước luật biển ghi nhận và những hành vi sẽ bi coi là vi phạm các nội dung này, từ đó, tác giả kết luận rằng, các quy định hiện nay về nguyên tắc này mới chỉ dừng lại ở việc thiết lập một khung pháp lý điều chỉnh hành vi của các quốc gia ở đáy biển mà chưa đưa ra được những giới hạn cụ thé cho những hành vi bị cắm trên vùng biển này. Tiếp đó, tác giả thông qua việc so sánh những nội dung pháp lý của nguyên tắc di sản chung của loài người với quy chế pháp lý điều chỉnh Nam cực và khoảng không vũ trụ dé đi đến nhận định liệu nguyên tắc này đã điều chỉnh hiệu quả vấn đề khai thác và sử dung phan đáy biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia hay chưa? Trong phan cuối cùng, bài viết đã phân tích mối liên hệ giữa nguyên tắc di sản chung của loài người với sự phát triên của luật môi trường quôc tê. II Một công trình nữa phải kế đến là bài viết “The Concept of Common Heritage of Mankind and the Genetic Resources of the Seabed beyond the Limits of National Jurisdiction” của tac gia Tullio Scovazzi [183]. Trên co sở phân tích nội dung của chế độ di sản chung của loài người cũng như tác động của nguyên tắc nay đến phản ứng của các quốc gia phát triển đối với những quy định điều chỉnh chế độ pháp lý của Vùng, tác giả đã đưa ra một kết luận khá thú vị rằng “trong khi những nội dung quan trọng mới được ghỉ nhận trong Công ước Luật biển 1982 như vùng đặc quyên kinh tế, bảo vệ môi trường biển là một sự phái triển tự nhiên của luật quốc tế thì quan niệm về di sản chung của loài người mang đây đủ những đặc điểm của một cuộc cách mạng” trong việc điều chỉnh nguồn tài nguyên trên đáy biển năm ngoài quyền tài phán của quốc gia.
Tiếp đó, tác giả chủ yếu chỉ ra những điểm chưa được đề cập hoặc chưa được đề cập cụ thể trong Phần XI của Công ước, ví dụ khía cạnh thương mại từ hoạt động khai mỏ hoặc tai nguyên phải sinh tai Vùng. Với tiêu đề “The deep seabed regime: Arfica’s contribution to its evolution and system of mining”, luận an của nghiên cứu sinh Edwin Egede [120] đã làm rõ những van dé cả về lich sử, pháp ly trong quy chế pháp lý của đáy biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia cũng như thực tiễn của một số quốc gia cụ thé. Vé lich sử, luận án đã phân tích quá trình hình thành, phát triển của quy chế pháp lý khu vực đáy biển nằm ngoài quyền tài phán của quốc gia. Về pháp lý, luận án đã phân tích toàn bộ những vấn đề pháp lý về quy chế pháp lý của Vùng, bao gồm cả vấn đề khai thác tài nguyên tại Vùng, các Quy định của Cơ quan quyên lực Vùng đối với việc khai thác một số loại khoáng sản cụ thé và thiết chế pháp lý trực tiếp quan lý hoạt động khai thác tài nguyên tai Vùng.