Luận án tiến sĩ luật học pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn của việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn của việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực

Chuyên ngành

Luật Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2018

269
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài

1.2. Các công trình nghiên cứu về quy chế pháp lý đối với thềm lục địa và tài nguyên khoáng sản trên vùng biển thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gia

1.3. Các công trình nghiên cứu về quy chế pháp lý của phần đáy biển nằm ngoài thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển và vấn đề khai thác tài nguyên trên phần đáy biển nằm ngoài thẩm quyền tài phán của quốc gia

1.4. Các công trình nghiên cứu về vấn đề bảo vệ môi trường biển từ hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản biển

1.5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu của luận án

1.6. Những vấn đề tiếp tục nghiên cứu trong luận án

1.7. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN BIỂN TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

2.1. Khái niệm tài nguyên khoáng sản biển và quản lý tài nguyên khoáng sản biển

2.2. Lý luận pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển

2.2.1. Lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển

2.2.2. Nguồn của pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển

2.2.3. Nguyên tắc của pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển

2.3. Nội dung pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển

2.3.1. Quản lý hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản biển

2.3.2. Bảo vệ môi trường biển trong quá trình tiến hành các hoạt động đối với khoáng sản biển

2.3.3. Giải quyết tranh chấp phát sinh từ những hoạt động này

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN BIỂN

3.1. Quản lý hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản biển

3.2. Quản lý hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản tại thềm lục địa

3.3. Quản lý hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản tại Vùng – di sản chung của loài người

3.4. Đánh giá các quy định của pháp luật quốc tế về quản lý hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản biển

3.5. Bảo vệ môi trường biển từ hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản

3.5.1. Nghĩa vụ chung trong bảo vệ, gìn giữ môi trường biển

3.5.2. Những biện pháp bảo vệ, gìn giữ môi trường biển từ hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản tại thềm lục địa và Vùng

3.5.3. Trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động bảo vệ, gìn giữ môi trường

3.5.4. Đánh giá các quy định về bảo vệ môi trường biển trong hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản biển

3.6. Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản

3.6.1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp

3.6.2. Biện pháp giải quyết tranh chấp

3.6.3. Viện giải quyết tranh chấp đặc biệt liên quan đến đáy biển

3.7. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN DẦU KHÍ

4.1. Pháp luật về quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam

4.1.1. Khái quát tiềm năng dầu khí của Việt Nam

4.1.2. Cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam

4.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về quản lý tài nguyên dầu khí

4.3. Thực tiễn thực thi pháp luật về quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam

4.3.1. Thực tiễn hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí

4.3.2. Bảo vệ môi trường từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí

4.3.3. Giải quyết tranh chấp quốc tế trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí

4.4. Một số giải pháp nâng cao hoạt động quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam

4.5. Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý tài nguyên dầu khí và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền trong thăm dò, khai thác dầu khí

4.6. Ký kết các thỏa thuận khai thác chung và thận trọng trong vấn đề thăm dò, khai thác tại khu vực thềm lục địa mở rộng

4.7. Nâng cao hiệu quả thực tiễn trong hoạt động bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam trên các vùng biển và tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế

4.8. Tăng cường các hoạt động chính trị, ngoại giao, pháp lý trong giải quyết các tranh chấp quốc tế

4.9. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Thông báo tham gia khảo sát

Phụ lục 2: Đơn yêu cầu phê chuẩn kế hoạch làm việc

Phụ lục 3: Hợp đồng thăm dò

Phụ lục 4: Các thỏa thuận thăm dò khoáng sản được Cơ quan quyền lực Vùng ký kết

Phụ lục 5: Bản đồ phân lô các lô dầu khí của Việt Nam

Phụ lục 6: Bản đồ khai thác dầu khí của Việt Nam

Phụ lục 7: Hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí tại các mỏ dầu Việt Nam của Tổng công ty thăm dò dầu khí Việt Nam

Phụ lục 8: Khu vực khai thác chung Việt Nam – Malaysia

Phụ lục 9: Sơ đồ khu vực xác định thỏa thuận thăm dò chung Việt Nam – Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ

Phụ lục 10: Ước tính khối lượng tràn dầu do hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí tại Việt Nam

Phụ lục 11: Bản đồ tranh chấp dầu khí

Phụ lục 12: Bản đồ dầu khí Việt Nam và đường lưỡi bò Trung Quốc

Phụ lục 13: Bản đồ các khu vực lô dầu khí CNOOC chào thầu phi pháp ngày 23/06/2012

Phụ lục 14: Khu vực Trung Quốc quấy rối, cản trở hoạt động thăm dò khai thác dầu khí của Việt Nam

Phụ lục 15: Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò của Việt Nam

Phụ lục 16: Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép

Phụ lục 17: Các tranh chấp về quyền chủ quyền của Việt Nam trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về pháp luật quốc tế liên quan đến quản lý tài nguyên khoáng sản biển đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả. Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tài nguyên khoáng sản biển không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn tiềm ẩn nhiều thách thức về môi trường và an ninh. Đặc biệt, các nghiên cứu về quy chế pháp lý đối với thềm lục địa và tài nguyên khoáng sản trên vùng biển thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gia đã được thực hiện sâu rộng. Những vấn đề như bảo vệ môi trường từ hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản biển cũng đã được đề cập. Các công trình nghiên cứu của Việt Nam cũng đã chỉ ra những quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực thi pháp luật trong lĩnh vực này. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một khung pháp lý rõ ràng và hiệu quả để quản lý tài nguyên khoáng sản biển, nhằm bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền lợi của quốc gia ven biển.

1.1. Đánh giá chung về những công trình nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển cần được cập nhật và hoàn thiện. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc khai thác tài nguyên khoáng sản biển không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn gây ra các tranh chấp giữa các quốc gia. Đặc biệt, các nghiên cứu về quy chế pháp lý của vùng biển nằm ngoài thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển đã chỉ ra những thách thức trong việc bảo vệ quyền lợi quốc gia. Các công trình này đã đóng góp quan trọng vào việc xây dựng chính sách và pháp luật liên quan đến quản lý tài nguyên khoáng sản biển tại Việt Nam.

II. Lý luận về quản lý tài nguyên khoáng sản biển trong pháp luật quốc tế

Khái niệm quản lý tài nguyên khoáng sản biển trong pháp luật quốc tế được định nghĩa là việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên khoáng sản biển một cách bền vững. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển đã trải qua nhiều giai đoạn, từ việc xác định quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển đến việc thiết lập các quy tắc chung cho việc khai thác tài nguyên. Các nguyên tắc của pháp luật quốc tế như nguyên tắc bảo vệ môi trường và nguyên tắc hợp tác quốc tế đã được đưa vào các điều ước quốc tế. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một khung pháp lý rõ ràng để quản lý tài nguyên khoáng sản biển, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.

2.1. Khái niệm tài nguyên khoáng sản biển

Tài nguyên khoáng sản biển bao gồm các loại khoáng sản có giá trị kinh tế được tìm thấy trong lòng đại dương và trên thềm lục địa. Các loại khoáng sản này không chỉ bao gồm dầu khí mà còn bao gồm các khoáng sản khác như cát, sỏi, và các khoáng sản quý hiếm. Việc khai thác tài nguyên khoáng sản biển cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật quốc tế để đảm bảo rằng hoạt động này không gây hại đến môi trường biển và không xâm phạm quyền lợi của các quốc gia khác. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các tranh chấp về quyền chủ quyền trên biển ngày càng gia tăng.

III. Thực trạng pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển

Thực trạng pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển hiện nay cho thấy nhiều quy định đã được thiết lập, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực thi. Các quy định về quản lý hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên khoáng sản biển cần được cải thiện để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững. Bên cạnh đó, việc bảo vệ môi trường biển từ hoạt động khai thác cũng cần được chú trọng hơn. Các quốc gia cần hợp tác chặt chẽ để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản biển, nhằm đảm bảo hòa bình và an ninh trên biển.

3.1. Quản lý hoạt động thăm dò khai thác tài nguyên khoáng sản biển

Quản lý hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên khoáng sản biển hiện nay đang gặp nhiều khó khăn. Các quy định pháp luật quốc tế chưa đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi khai thác trái phép và bảo vệ môi trường biển. Nhiều quốc gia vẫn chưa có các quy định cụ thể về quản lý tài nguyên khoáng sản biển, dẫn đến tình trạng khai thác không bền vững. Việc thiết lập các khu vực khai thác chung và các thỏa thuận quốc tế là cần thiết để đảm bảo rằng tài nguyên khoáng sản biển được khai thác một cách hợp lý và bền vững.

IV. Pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực thi pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên dầu khí

Pháp luật Việt Nam về quản lý tài nguyên dầu khí đã được xây dựng dựa trên các quy định của pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, thực tiễn thực thi pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế. Các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí cần được cải thiện để đảm bảo an toàn cho môi trường biển. Bên cạnh đó, việc giải quyết các tranh chấp quốc tế trong hoạt động dầu khí cũng cần được chú trọng hơn. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam cần được đề xuất để đảm bảo rằng tài nguyên này được khai thác một cách bền vững và hiệu quả.

4.1. Thực tiễn thực thi pháp luật về quản lý tài nguyên dầu khí

Thực tiễn thực thi pháp luật về quản lý tài nguyên dầu khí tại Việt Nam cho thấy nhiều thách thức trong việc bảo vệ môi trường và giải quyết tranh chấp. Các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật quốc tế để đảm bảo rằng hoạt động này không gây hại đến môi trường và không xâm phạm quyền lợi của các quốc gia khác. Việc nâng cao nhận thức về pháp luật và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này là cần thiết để đảm bảo rằng tài nguyên dầu khí được khai thác một cách bền vững.

06/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 và 4, tác giả đã phân tích các quy định của Công ước luật biển 1982 liên quan đến quyền chủ quyền của quốc gia ven biển trong thăm dò, khai thác, quản lý tài nguyên phi sinh vật, cụ thé là khoáng sản. Toàn bộ chương 6 là những phân tích về các van đề pháp lý liên quan đến trường hợp thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Một bài viết khác cũng phân tích Điều 82 Công ước luật biển 1982 liên quan đến nghĩa vụ của quốc gia khi khai thác tài nguyên tại phần thềm lục địa mở rộng là “The Revenue Sharing Scheme with Respect to the Exploitation of the Outer Continental Shelf under Article 82 of the United Nations Convention on the Law of the Sea —A Plethora of Entangling Issues—“ của giao su Kanehara Atsuko [154]. Trong phan đầu bài viết, tac giả đã đưa ra kết luận rằng, Điều 82 thực chat là một sự thỏa hiệp mang tính chính trị nhiều hơn là để cân bằng giữa chế độ pháp lý của thêm lục địa và Vùng.

Phan thứ hai của bài viết là những phân tích về nội dung của Điều 82 liên quan đến bốn vấn đề: Khi nào nghĩa vụ nộp các khoản đóng góp xuất hiện; những điều khoản bị chỉ trích, các cụm từ cần phân tích trong Khoản 2 Điều 82; so sánh tương quan giữa những khoản đóng góp của quốc gia ven biển với những lợi ích chung tai Vùng — di sản chung của loài người và cơ chế nào dé đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp của quốc gia ven biến. Trong cuốn sách “A hand book and the new law of the sea”, tác giả Reré — Jean va Depuy — Vignes [152] đã dành toàn bộ Phan II dé viết về thềm luc địa với các van đề: Mot là, quá trình ra đời của thêm lục địa trong luật biên quốc tế; hai là, bản chất kéo dài tự nhiên của lãnh thé đất liền của thềm lục địa và ba /à, quy chế pháp lý đối với nguồn tài nguyên trên thềm lục địa. Những phân tích của các tác giả được đưa ra trên cơ sở tuyên bố đơn phương của các quốc gia, những phán quyết có liên quan của cơ quan tài phán quốc tế và các quy định tương ứng trong Công ước luật biển 1982. Bài viết “The nature of continental shelf rights in international law” của giáo su Takeshi Minagawa [192] là một bài viết rất thú vị nghiên cứu về quy chế pháp lý của TLĐ liên quan đến quyền chủ quyền của quốc gia ven biên đối với tài nguyên tại vùng biển nay.

Nội dung của bài viết xoay quanh bốn vấn dé, thir nhát trong giai đoạn từ năm 1971 đến 1973, có tồn tại một tập quán nao trong luật quốc tế ghi nhận quyền chủ quyền của quốc gia ven biển trong thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong thềm lục địa hay không?; hi hai là nếu có tập quán như vậy thì quyền chủ quyền của quốc gia ven biển có bao gồm quyền thu thuế đối với những khoản thu nhập có được từ hoạt động khai thác tài nguyên tại vùng biển này không?; thir ba là quyền chủ quyền trong thăm dò, khai thác tài nguyên trong thềm lục địa được hiểu như thế nào và cuối cùng là mục đích của quy định về bảo ton trong Công ước được hiểu như thế nào. Cuốn sách “Sea — bed enrgy and minerals resources and the law of the sea” của tac giả E. Brown [100] gồm 3 tập, trong đó, tập 1 với tiêu đề The Areas within national jurisdiction viết về van đề khai thác, thăm dò nguồn năng lượng và tài nguyên phi sinh vật tại đáy biển của các vùng biển thuộc thâm quyền tài phán của quốc gia, chủ yêu là TLĐ. Trên cơ sở phân tích thực tiễn của một số quốc gia cùng những quy định của Công ước năm 1958 về thêm lục địa và Công ước luật biển 1982, cuốn sách đã đề cập đến bốn vấn đề: Ranh giới ngoài của TLĐ; các quy tắc áp dụng trong việc phân định TLĐ giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc tiếp liền; chế độ pháp lý của TLĐ, đặc biệt liên quan đến các quyền của quốc gia ven bién trong khai thác, thăm đò tài nguyên và các quy tắc giải quyết ô nhiễm phát sinh từ hoạt động thăm dò, khai thác.

Đồng tác gia Edward Duncan Brown[ 101], cuốn sách “Sea — bed Energy and Minerals: The Continental Shelf” (Volume 1) trước tiên đã khái quát qua trình phat triển của thềm luc địa. Tiếp đó, cuốn sách đã phân tích những quy định của UNCLOS về quy chế pháp ly của thềm lục địa, bao gồm cả những quyên của quốc gia ven biển đối với tài nguyên trên vùng biển này. Các công trình nghiên cứu về quy chế pháp lý của phan đáy bien nằm ngoài tham quyền tài phán của quốc gia ven biển và vấn đề khai thác tài nguyên trên phan đáy biển nằm ngoài thẩm quyền tài phán của quốc gia Bài viết “Deep seabed exploitation” của tac giả John Warren Kindt [153] đã phân tích van dé khai thác tài nguyên trên phan đáy biển nằm ngoài quyền tai phán của quốc gia ven biển trên hai phương diện, lich sử và pháp lý. Về lich sử, tac giả đã tái hiện lại những cuộc tranh luận giữa các quốc gia trước các quy định tại phần XI xoay quanh van đề ai được quyền khai thác tại đáy biển và cơ chế quản lý hoạt động 10 khai thác ra sao.

Về pháp lý, tác giả đã phân tích một số quy định của Công ước về việc khai thác tài nguyên tại Vùng trong mối liên hệ với các quy định của luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển. Cũng tiếp cận trên phương diện lich sử, có thé kế đến một số công trình khác như bài viết “An international regime for the sea — bed beyond national jurisdiction” của hai tac giả Thomas. Franck va Evan R. Chesler [123]; “Law of the sea — Deep seabed mining — United States Position in Light of Recent Agreement and Exchange of Notes with Five Countries Involved in Preparatory Commission of United Nations Convention on the Law of the Sea” cua hai tác gia Ga.

INT'L va CoMP. L[151]; “Law in the Making: A U niversal Regime for Deep Seabed Mining” cua tac gia Elliot L. Công trình tiếp theo là cuốn sách “The development of the regime for the seabed mining” của nhóm tác gia Shabtain Rosenne (Chu biên), Satya N. Nandan và Michael W.

Toàn bộ nội dung của phan thứ nhất là những quan điểm đối với phan đáy biển và tài nguyên trên đáy biển phía dưới biển cả hoặc nằm bên ngoài vùng biên thuộc lãnh thổ quốc gia trên cơ sở nội dung của nguyên tắc tự do biển cả. Phần thứ hai của cuốn sách đã tái hiện hoạt động của toàn bộ những Ủy ban đã được thành lập dé thảo luận những van đề liên quan đến phan đáy biển và tài nguyên bên ngoài vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia. Trong phan cuối cùng, các tác giả đã phân tích và đưa ra những bình luận về các nội dung pháp lý của phần thứ XI Công ước cùng những phụ lục liên quan. Trong bài viết “The common heritage of mankind: An adequate regime for managing the deep seabaed?”’, tac gia Edward Guntrip [131] trước tiên đã làm rõ quá trình phat triển của nguyên tắc di sản chung của loài người.

Trong phan tiếp theo, bài viết đã phân tích cụ thể dưới góc độ pháp lý và thực tiễn những nội dung của nguyên tắc di sản chung của loài người được Công ước luật biển ghi nhận và những hành vi sẽ bi coi là vi phạm các nội dung này, từ đó, tác giả kết luận rằng, các quy định hiện nay về nguyên tắc này mới chỉ dừng lại ở việc thiết lập một khung pháp lý điều chỉnh hành vi của các quốc gia ở đáy biển mà chưa đưa ra được những giới hạn cụ thé cho những hành vi bị cắm trên vùng biển này. Tiếp đó, tác giả thông qua việc so sánh những nội dung pháp lý của nguyên tắc di sản chung của loài người với quy chế pháp lý điều chỉnh Nam cực và khoảng không vũ trụ dé đi đến nhận định liệu nguyên tắc này đã điều chỉnh hiệu quả vấn đề khai thác và sử dung phan đáy biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia hay chưa? Trong phan cuối cùng, bài viết đã phân tích mối liên hệ giữa nguyên tắc di sản chung của loài người với sự phát triên của luật môi trường quôc tê. II Một công trình nữa phải kế đến là bài viết “The Concept of Common Heritage of Mankind and the Genetic Resources of the Seabed beyond the Limits of National Jurisdiction” của tac gia Tullio Scovazzi [183]. Trên co sở phân tích nội dung của chế độ di sản chung của loài người cũng như tác động của nguyên tắc nay đến phản ứng của các quốc gia phát triển đối với những quy định điều chỉnh chế độ pháp lý của Vùng, tác giả đã đưa ra một kết luận khá thú vị rằng “trong khi những nội dung quan trọng mới được ghỉ nhận trong Công ước Luật biển 1982 như vùng đặc quyên kinh tế, bảo vệ môi trường biển là một sự phái triển tự nhiên của luật quốc tế thì quan niệm về di sản chung của loài người mang đây đủ những đặc điểm của một cuộc cách mạng” trong việc điều chỉnh nguồn tài nguyên trên đáy biển năm ngoài quyền tài phán của quốc gia.

Tiếp đó, tác giả chủ yếu chỉ ra những điểm chưa được đề cập hoặc chưa được đề cập cụ thể trong Phần XI của Công ước, ví dụ khía cạnh thương mại từ hoạt động khai mỏ hoặc tai nguyên phải sinh tai Vùng. Với tiêu đề “The deep seabed regime: Arfica’s contribution to its evolution and system of mining”, luận an của nghiên cứu sinh Edwin Egede [120] đã làm rõ những van dé cả về lich sử, pháp ly trong quy chế pháp lý của đáy biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia cũng như thực tiễn của một số quốc gia cụ thé. Vé lich sử, luận án đã phân tích quá trình hình thành, phát triển của quy chế pháp lý khu vực đáy biển nằm ngoài quyền tài phán của quốc gia. Về pháp lý, luận án đã phân tích toàn bộ những vấn đề pháp lý về quy chế pháp lý của Vùng, bao gồm cả vấn đề khai thác tài nguyên tại Vùng, các Quy định của Cơ quan quyên lực Vùng đối với việc khai thác một số loại khoáng sản cụ thé và thiết chế pháp lý trực tiếp quan lý hoạt động khai thác tài nguyên tai Vùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án tiến sĩ luật học: Pháp luật quốc tế quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về khung pháp lý quốc tế liên quan đến quản lý tài nguyên khoáng sản biển, đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Tác giả không chỉ nêu rõ các quy định quốc tế mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc thực hiện các quy định này trong bối cảnh Việt Nam. Bài viết mang lại lợi ích cho độc giả bằng cách giúp họ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên biển, cũng như các chính sách cần thiết để phát triển bền vững.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về quản lý tài nguyên và môi trường, hãy tham khảo thêm các tài liệu như Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng trồng keo và bạch đàn trên địa bàn huyện Ba Vì và huyện Thạch Thất thành phố Hà Nội, nơi bạn có thể tìm hiểu về hiệu quả kinh tế của rừng trồng. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học về kỹ thuật trồng rừng phòng hộ trên các dạng lập địa chính vùng cát ven biển các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị sẽ cung cấp thêm thông tin về kỹ thuật trồng rừng ven biển, một phần quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên biển. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường công tác quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn huyện Nông Sơn tỉnh Quảng Nam để hiểu rõ hơn về quản lý tài nguyên rừng, một yếu tố không thể thiếu trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.