CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Công tác quản lý thu BHXH đặc biệt quan trọng trong hệ thống BHXH, có vai trò quyết định đến sự tồn tại của hệ thống BHXH. Các nghiên cứu trong và ngoài nước của nhiều tác giả khác nhau cũng đã đề cập đến vấn đề BHXH nói chung và công tác quản lý thu BHXH nói riêng. Tuy nhiên, việc áp dụng vào thực tiễn nước ta hiện nay cần phải được nghiên cứu thật kỹ.
Các công trình đã nghiên cứu giúp nghiên cứu sinh hệ thống hóa được những vấn đề lý luận, làm rõ được những vấn đề đã nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu. Sau đây là một số công trình đã nghiên cứu liên quan đến đề tài mà nghiên cứu sinh đã tổng hợp được: 1. Tổng quan những nghiên cứu liên quan đến quản lý thu BHXH 1. Những nghiên cứu về quản lý đối tượng tham gia BHXH Đề tài khoa học cấp Bộ (BHXH Việt Nam) (2016), Nghiên cứu các giải pháp nhằm quản lý và phát triển đối tượng tham gia BHXH trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, do tác giả Phạm Đình Thành làm chủ nhiệm đã nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về quản lý người LĐ trong các DN đối với việc tham gia BHXH và thuế thu nhập cá nhân (TNCN).
Tác giả đã tiến hành khảo sát, phân tích nguồn số liệu về số người LĐ đang làm việc chính thức thuộc diện kê khai thuế TNCN và số người đang tham gia BHXH bắt buộc giữa cơ quan thuế và cơ quan BHXH ở cùng một DN trên cùng một địa bàn để tìm ra sự chênh lệch về số người cũng như sự khác biệt về mức lương làm căn cứ đóng BHXH. Trên cơ sở đó, tác giả đã đánh giá thực trạng tình hình tham gia BHXH ở các DN và phân tích những nguyên nhân chủ yếu về người LĐ chưa được tham gia BHXH tại DN. Đây là cơ sở thực tiễn để từ đó tác giả đề xuất các giải pháp nhằm quản lý và phát triển số người tham gia BHXH tại DN. Một số nhóm giải pháp tác giả tập trung đưa ra như: nhóm giải pháp về chính sách, giải pháp về tổ chức thực hiện, các giải pháp tăng cường chất lượng hoạt động phối hợp giữa các DN và các ngành có liên quan; các giải pháp về công nghệ thông tin đặc biệt chú trọng đến cơ sở dữ liệu dùng luan an 9 chung.
Đây là công trình nghiên cứu về quản lý và phát triển đối tượng tham gia BHXH rất công phu, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, giới hạn của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội, đối tượng tham gia BHXH chỉ đề cập đến các lao động hiện đang làm việc tại các DN. [41] Đề tài khoa học cấp Bộ (BHXH Việt Nam) do tác giả Bùi Sỹ Lợi làm chủ nhiệm đề tài (2016), Nghiên cứu các giải pháp nhằm triển khai thực hiện BHXH bắt buộc cho người LĐ làm việc theo hợp đồng LĐ có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng theo quy định của luật BHXH năm 2014, đã làm rõ hơn về cơ sở pháp lý và thực tiễn của việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Đề tài tập trung nghiên cứu nhóm đối tượng làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng.
Tác giả đã phân tích thực trạng NLĐ làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng trong thị trường LĐ hiện nay và yêu cầu quản lý, tổ chức thực hiện để nhóm LĐ này tham gia BHXH bắt buộc. Trong phân tích đánh giá thực trạng, tác giả tập trung phân tích chính sách hỗ trợ tạo việc làm và mối quan hệ giữa chính sách tạo việc làm và mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Tác giả nhận định mối quan hệ giữa chính sách việc làm và hỗ trợ việc làm với phát triển, mở rộng đối tượng tham gia BHXH là quan hệ thuận chiều, một chính sách hỗ trợ việc làm hiệu quả, tạo ra nhiều việc làm cho xã hội sẽ góp phần vào việc gia tăng đối tượng tham gia BHXH và ngược lại một chính sách hỗ trợ việc làm kém hiệu quả, số lượng việc làm tạo ra thấp, tỷ lệ thât nghiệp tăng cao chắc chắn sẽ là khó khăn trong phát triển đối tượng tham gia BHXH. Tác giả đề xuất một số giải pháp quản lý, tổ chức thực hiện chính sách BHXH bắt buộc như: hồ sơ, thủ tục, giải quyết chế độ,… cho nhóm LĐ làm việc theo hợp đồng có thời hạn từ đủ 1 tháng đến 3 tháng và giải pháp để NSDLĐ tham gia thực hiện quy định pháp luật; vai trò của tổ chức đại diện NLĐ, NSDLĐ, Mặt trận Tổ quốc và các thành viên của Mặt trận trong việc bảo vệ quyên và lợi ích của các bên trong quan hệ BHXH.
Đề tài nghiên cứu về BHXH bắt buộc nhưng chỉ tập trung vào đối tượng tham gia BHXH là những người lao động làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng theo quy định mới của luật BHXH năm 2014. Như vậy, giới hạn của luan an 10 đề tài chỉ tập trung nghiên cứu NLĐ làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng, đây chỉ là một nhóm LĐ góp phần vào việc gia tăng đối tượng tham gia BHXH. [12] Đề tài khoa học cấp Viện (Viện Khoa học Lao động và Xã hội), Dự báo khả năng tham gia vào hệ thống bảo hiểm: BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và BHXH thất nghiệp (2011) do tác giả Nguyễn Bích Ngọc làm chủ nhiệm đề tài đã nhận định trong quá trình thực hiện các chính sách BHXH luôn được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với quá trình phát triển của đất nước nhằm đảm bảo quyền lợi của NLĐ và tình hình KT-XH từng thời kỳ. Tuy nhiên, hệ thống BHXH hiện nay tồn tại cơ bản là mức độ bao phủ thấp, đối tượng tham gia BHXH chủ yếu là LĐ làm việc trong khu vực nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Một trong những nguyên nhân chủ yếu là tình trạng trốn đóng BHXH của các DN, đặc biệt là LĐ trong khu vực DN tư nhân. Sau 3 năm thực hiện BHXH tự nguyện và 2 năm thực hiện BH thất nghiệp, số đối tượng tham gia BHXH tự nguyện còn hạn chế. Nghiên cứu dự báo khả năng tham gia và các giải pháp mở rộng khả năng tham gia vào hệ thống bảo hiểm: BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và BHTN là việc làm rất cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách trong việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BHXH đảm bảo ASXH cho mọi người dân và cũng là biện pháp tăng nguồn kinh phí cho hệ thống BHXH. Đề tài đã xây dựng mô hình dự báo khả năng tham gia BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và BHXH thất nghiệp.
Tác giả đã phân tích những yếu tố chủ yếu làm thay đổi số lượng đối tượng BHXH như: nhóm nhân tố nhân khẩu học, cơ cấu của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhóm nhân tố chính sách. Với việc xác định mức bao phủ của hệ thống và mức tuân thủ của hệ thống, tác giả đã tính toán và đưa ra kết quả dự báo số người tham gia BHXH đến năm 2020. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra 3 nhóm giải pháp nhằm mở rộng khả năng tham gia vào hệ thống BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BHXH thất nghiệp. Đối với nhóm giải pháp mở rộng khả năng tham gia BHXH bắt buộc, tác giả đã đề xuất Chính phủ cần đẩy mạnh các giải pháp trong việc thực hiện chính sách như: tăng cường sự quản lý nhà nước, đổi mới phương thức thu BHXH bắt buộc thông luan an 11 qua cơ quan thuế hoặc qua cơ quan dịch vụ thu, nâng cao chế tài xử lý mạnh các trường hợp trốn, nợ BHXH.
Đối với nhóm giải pháp mở rộng khả năng tham gia BHXH tự nguyện, tác giả đề xuất cần có chính sách hỗ trợ người có thu nhập thấp tham gia, có chính sách cho lao động nữ trên 40 tuổi và nam trên 45 tuổi; tiếp tục hoàn thiện chính sách BHXH theo hướng chuyển sang mô hình tài khoản cá nhân tượng trưng NDC. Đề tài đã nghiên cứu tổng quát về dự báo khả năng tham BHXH đối với đầy đủ các loại hình BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và BHXH thất nghiệp. Tuy nhiên, đề tài chưa tập trung nghiên cứu sâu về khả năng tham gia BHXH bắt buộc đối với các khối tham gia BHXH.[33] Tạp chí quốc tế International Journal of Social Science and Humanity, đăng bài viết Determinants of Social Insurance Coverage in the Philippines (2016) của tác giả Ma. Mandigma đưa ra các yếu tố quyết định độ bao phủ BHXH ở Philippines.
Bài viết đã phân tích độ bao phủ bị chi phối nhất của ASXH là BHXH hoặc trợ cấp hưu trí công cộng ở Philipin bằng cách kiểm tra các mối quan hệ với các biến số kinh tế và phi kinh tế chính được lựa chọn. Tác giả đã trình bày các chỉ số về độ bao phủ BHXH từ năm 2000-2013 bao gồm độ bao phủ của bảo hiểm hưu trí giữa những người hoạt động kinh tế (EAP) với những người hưởng lợi cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên). Độ bao phủ BHXH được thể hiện bởi những đóng góp từ EAP chịu ảnh hưởng tích cực bởi các yếu tố kinh tế như: ổn định kinh tế, hình thành vốn, tăng trưởng tiền lương và đô thị hoá; và bị ảnh hưởng tiêu cực bởi mức độ phát triển kinh tế và toàn cầu hóa. Độ bao phủ BHXH được xác định theo tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên hưởng chế độ hưu trí là do các biến kinh tế như: phát triển kinh tế, ổn định kinh tế, năng lực hành chính quốc gia, tăng lương, thất nghiệp và thiếu việc làm; và đẩy mạnh sự hình thành vốn và đô thị hoá.
Mức độ bao phủ giữa những người hưởng lợi trên 60 tuổi được thúc đẩy tích cực bởi các yếu tố phi kinh tế như: lý thuyết nữ quyền, giáo dục và tỷ lệ đói nghèo; trong khi khu vực phi chính thức có ấn tượng tiêu cực về nó. Như vậy, nghiên cứu này tập trung phân tích mức độ bao phủ của hình thức ASXH phổ biến nhất là BHXH hoặc hưu trí công cộng bằng cách kiểm tra các mối quan hệ của chúng với các biến kinh tế và phi kinh tế chính đã luan an 12 được lựa chọn. Tác giả sử dụng một số mô hình hồi quy dựa trên dữ liệu từ 2000- 2013 để phân tích đánh giá cho nghiên cứu của mình.