Chương 1: Lý thuyết về nghiệp vụ bảo hiểm cháy, nỗ bắt buộc Chương 2: Tình hình khai thác nghiệp vụ Bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc tại Tổng công ty Bảo hiém PVI (2018 — 2022) Chương 3: Những giải pháp và kiến nghị đối với việc nâng cao hiệu quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy, nô bắt buộc tại Bảo hiểm PVI CHUONG I: LÝ THUYET VE NGHIỆP VỤ BAO HIEM CHAY, NO BAT BUOC 1. Sự cần thiết của nghiệp vụ Bao hiểm cháy, nỗ bắt buộc 1. Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ Bảo hiểm cháy, nỗ bắt buộc Bảo hiểm được xem là một lẽ tất yếu khách quan trong việc chia sẻ rủi ro giữa các cá nhân và tổ chức. Từ sự ra đời đầu tiên được xem như là hình thức sơ khai của bảo hiểm là vào khoảng trước công nguyên ở Ai Cập, những người thợ đẽo đá đã biết thành lập "quỹ tương trợ" nhằm cứu giúp những nạn nhân trong các vụ tai nạn.
Từ đó, nhiều hoạt động có tính chất như bảo hiểm được phát triển dần từ những quỹ dự trữ và tương trợ nhỏ đến các loại bảo hiểm lớn như ngày nay. Theo lich sử dé lại từ thời Phục Hung thì ở Châu Âu cũng không có một hệ thống phòng cháy hiệu quả nào ngoài hệ thống dùng từ thời các hoàng dé La Mã cai trị. Va, không phải ai cũng nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ tài sản và tính mạng của mình vào thời điểm đó. Thực tế, trong lịch sử, nhiều người coi hoa hoạn là điều không thể tránh khỏi cũng như nạn đói, chiến tranh và nhiều dịch bệnh khác.
Việc phòng cháy và chữa cháy cũng không được đầu tư đúng mức, dẫn đến những thảm hoạ cháy nỗ có thé được tránh khỏi. Điền hình là trận cháy khủng khiếp ở Luân Đôn, nước Anh ngày 2/9/1666. Trong 4 ngày, trận cháy đã phá huỷ hơn 13.000 căn nhà, trong đó có hơn 100 nhà thờ, dé lại một sự tốn thất rất to lớn không thé khắc phục được. Người dân lúc đây mới nhận ra tầm quan trọng của việc xây dựng hệ thống phòng cháy, chữa cháy và đền bù cho những người bị thiệt hại.
Từ đó, nhiều công ty bảo hiểm cháy né đã được thành lập, đặc biệt là tại nước Anh. Lúc đấy nhiều nhà kinh doanh ở nước Anh đã nghĩ đến việc cộng đồng chia sẻ rủi ro hoả hoạn bằng cách đứng ra thành lập những Công ty bảo hiểm cháy nỗ như: Một số văn phòng cung cấp dịch vu phòng cháy, chữa cháy và bảo hiểm cháy Fire Office (năm 1667). Năm 1684, công ty bảo hiểm cháy nô đầu tiên ra đời là công ty Friendly Society, sau đó hàng loạt các công ty bảo hiểm khác đã ra đời: Hand and Hand năm 1696, Lom Bard House năm 1704,. Sự ra đời của bảo hiểm hoa hoạn đãtrở thành nghiệp vụ chính của nhiều công ty bảo hiểm lúc bấy giờ.
Ngày nay nghiệp vụ bảo hiểm cháy nô được thực hiện ở hâu hêt các nước trên thê giới và rât phô biên. Công cuộc phát triển của bảo hiểm cháy nỗ không chỉ diễn ra ở Châu Âu mà còn lan rộng sang các nước khác trên thê giới. Mỹ là một trong những quôc gia đầu tiên phát triển ngành bảo hiểm cháy nổ. Năm 1735, thành phố Charleston ở tiểu bang Nam Carolina của Mỹ đã thành lập công ty bảo hiểm cháy đầu tiên tại đât nước này.
Trong quá trình phát triển, ngành bảo hiểm cháy nô không chỉ đáp ứng nhu cầu bảo vệ tài sản của cá nhân, gia đình mà còn được ứng dụng trong các lĩnh vực khác như kinh doanh, công nghiệp. Những sự cố cháy né trong các tòa nhà cao tầng, nhà máy, công trình xây dựng thường gây ra những thiệt hại lớn, vì vậy việc bảo vệ bằng bảo hiểm trở nên càng quan trọng hơn. Ở Việt Nam trước năm 1945 đã có một công ty BH cháy của Pháp hoạt động. Tuy nhiên do cơ chế bao cấp, Nhà nước đứng ra bồi thường toàn bộ tồn thất dé bảo dam tài chính cho các doanh nghiệp khi họ không may gặp sự cố.
Vì vậy BH nói chung và BH cháy nỗ nói riêng không có điều kiện hoạt động. Cho đến khi nước ta chuyên đôi thành nền kinh tế mở với cơ chế tự hạch toán kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về tài chính, về kết quả và hiệu quả kinh doanh, cùng với quyết định số 06-TCQD ngày 17/11/1989 của Bộ Tài Chính kèm theo quy tắc và biểu phí BH cháy thì nghiệp vụ trên mới chính thức được công ty Bảo Hiểm Việt Nam (Bảo Việt) triển khai và hoạt động. Sau một thời gian thực hiện dé phù hợp với tình hình thực tế, Bộ Tài Chính ban hành thêm một số quyết định khác đối với nghiệp vụ BH cháy: quyết định số 142-TCQD về quy tắc và biểu phí mới, quyết định số 212-TCQD ngày 12/4/1993 thay thế cho biểu phí quyết định số 142-TCQD và vào ngày 24/4/2007 Bộ Tài chính ban hành quyết định số 28/2007/QĐ-BTC về quy tắc và biểu phí bảo hiểm cháy bắt buộc thay thế cho các quyết định trước. Việc Chính Phủ ban hành nghị định 130/2006/NĐ-CP ngày 8/11/2006 quy định về chế độ BH cháy nồ bắt buộc kem theo quyết định số 28 của Bộ Tài Chính về quy tác và biéu phí bảo hiểm cháy nó bắt buộc đã tạo cơ sở pháp lý đầu tiến để Bảo Việt cũng như các công ty bao hiểm khác triển khai nghiệp vụ cháy.
Đến thời điểm hiện tại, Chính phủ đã ban hành 2 nghị định quy định chỉ tiết đối với bảo hiểm cháy, nỗ bắt buộc là Nghị định số 23/2018/NĐ-CP Quy định về Bảo hiểm cháy, nỗ bắt buộc và Nghị định 97/2021/NĐ-CP Sửa đôi, bổ sung một số điều của Nghị định số 23/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2018. Từ năm 1990, nước ta đã có 16 công ty triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy với giá trị tham gia bảo hiểm lên đến 6. Đến năm 1994 bảo hiểm cháy được tiến hành thức hiện trên tất cả 53 tỉnh thành phó và có nhiều công ty triển khai như: PJICO, PVI, Bao Minh,. với tông số doanh thu bảo hiểm là gần 28.
Năm 2021, tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 57.878 tỷ đồng, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2020 và bảo hiểm cháy né bắt buộc 5.728 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 9,9%. Ngày càng có nhiều công ty tham gia cạnh tranh cung ứng các sản phẩm bảo hiểm cháy nỗ bắt buộc làm cho thị trường bảo hiểm đa dạng và phong phú, tăng tính "ganh đua" qua đó nâng cao được chất lượng sản phẩm. Sự cần thiết và tác dụng của Bảo hiểm cháy, nỗ bắt buộc e Sự cần thiết của Bảo hiểm cháy, nồ bắt buộc Trong những năm gần đây tại Việt Nam, tuy sé vụ cháy, nô, số người thiệt mạng, số người bị thương và cả giá trị tài sản bị thiệt hại đều giảm mạnh do các vụ cháy, nỗ nhỏ lẻ giảm mạnh. Còn các vụ cháy, n6 với thiệt hại nặng nè dé lại hậu quả đặc biệt nghiêm trọng vẫn tiếp tục xảy ra với tần suất không hề giảm với một số dẫn chứng sau đây: vụ cháy quán karaoke tại quận Cầu Giấy, Hà Nội ngày 01/8/2022 làm 3 chiến sĩ Cảnh sát PCCC hy sinh; vụ cháy kho xưởng khiến 3 mẹ con tử vong ở Thanh Oal, Hà Nội ngày 10/9/2022; vụ cháy quán karaoke tại Bình Dương ngày 06/9/2022 làm nhiều người chết.
Bảng số liệu dưới đây sẽ đem đến một cái nhìn khách quan về tôn thất thiệt hại cháy, nô tại Việt Nam: Bang 1.1: Thực trạng cháy, nỗ tại Việt Nam (2019 — 2021) Năm 2019 2020 2021 Chỉ tiêu Số vụ cháy, né (vụ) 3.266 Số người thiệt mạng (người) 101 89 97 Số người bị thương (người) 173 184 145 Tài sản bị thiệt hại (ty đồng) 1.527,202 932,023 374,42 (Nguon: Thông cáo bdo chi vé tinh hinh chay, no năm 2019, 2020, 2021) Theo Cục Cảnh sát Phong cháy chữa cháy va cứu nan cứu hộ, năm 2021 so với năm 2020, số vụ cháy, nô và thiệt hai do cháy, nỗ giảm 531 vụ, tăng 8 người chết, thiệt hại tài sản ước tính giảm 557,603 tỷ đồng. Con so sánh với năm 2019, số vụ cháy, nô và thiệt hại do cháy, nỗ giảm 1.552 vụ, giảm 4 người chết, thiệt hai tài sản ước tính giảm 1.152,782 tỷ đồng Cụ thé năm 2021, cả nước xảy ra 2.266 vụ cháy, nỗ, làm chết 97 người, bị thương 145 người, thiệt hại về tài sản ước tính 374,42 ty đồng. Đến 6 tháng dau năm 2022, số vụ cháy, nỗ xảy ra trên toàn quốc không quá cao khi đã diễn ra 856 vụ, làm chết 49 người, bị thương 52 người và đặc biệt thiệt hại về tài sản ước tính là 414,73 tỷ đồng cao hơn so với cả năm 2021. Đây đều là những số liệu đáng mừng nếu xem xét theo số vụ cháy, số người chết, số người bị thương và giá trị tài sản bị thiệt hại đều giảm qua từng năm từ năm 2019 đến năm 2021 nhưng đến năm 2022 giá trị tài sản bị thiệt hại do cháy, nỗ đã và đang tăng cao và trong tình trạng báo động.
Trên cơ sở điều tra nguyên nhân, các vụ cháy, nỗ lớn chủ yếu là do các nguyên nhận: do sự cố hệ thống, thiết bị điện; do sơ xuất, bất cần trong sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt; do sự cô kỹ thuật còn lại là do vi phạm an toàn phòng cháy chữa cháy trong thi công, hàn, cắt kim loại, tác động của thiên nhiên. Theo thống kê của Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ, số vụ cháy xảy ra ở thành thị cao hơn ở nông thôn, cháy nhà dân cao hơn so với cháy kho bãi, cơ sở sản xuất, chế biến kinh doanh. Cu thé 6 tháng đầu năm 2022, số vụ cháy ở nhà dân là 322 chiếm 37,97% tông số vụ cháy còn số vụ cháy ở kho, cơ sở sản xuất, kinh doanh là 183 chiếm 21,85% tông số vụ cháy. Bên cạnh đó, nguyên nhân khác dẫn đến cháy lớn chủ yếu do ý thức PCCC của người dân còn chưa cao do việc phát hiện và báo cháy muộn, khi xảy ra cháy không phát hiện và tô chức chữa cháy kịp thời, khi cháy lan rộng mới báo cho lực lượng chữa cháy chuyên nghiệp.
Bảng số liệu sau đây sẽ thể hiện rõ nhất, sự phân bó địa điểm diễn ra hoạt động cháy, né trong 6 tháng đầu năm 2022 tại Việt Nam.