phần mở đầu, đề tài chỉ xem xét về tính hiệu của của hoạt động tín dụng dưới góc nhìn của ngân hàng. Do đó, toàn bộ phần nghiên cứu hiệu quả hoạt động tín dụng không đề cập tới tính hiệu quả của hoạt động tín dụng trong phạm vi toàn xã hội. Hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế và dân cư (gọi chung là khách hàng) để thực hiện các dự án, phương án sản xuất kinh doanh, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Nếu dự 19 án, phương án sử dụng vốn của khách hàng có chất lượng kém, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, hoạt động kinh doanh thua lỗ,… sẽ dẫn đến không có khả năng hoàn trả vốn vay cho ngân hàng, rủi ro mất vốn có khả năng xảy ra, tức là hoạt động tín dụng của ngân hàng không có hiệu quả và ngược lại.
Do vậy, hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng gắn liền với chất lượng tín dụng, rủi ro tín dụng. Chất lượng tín dụng càng tốt thì rủi ro tín dụng càng ít và hiệu quả hoạt động tín dụng càng cao và ngược lại. Do vậy, hiệu quả tín dụng là một chỉ tiêu kiên quyết đối với sự tồn tại và phát triển của các NHTM. Khi hiệu quả tín dụng đạt ở mức cao thì bản thân những nội dung kinh tế và xã hội của nó sẽ tạo đà cho mọi hoạt động kinh doanh của NHTM đạt mục tiêu đề ra ngược lại sẽ làm cho NHTM ở thế bất ổn định, chậm phát triển.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng. Tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn (%) Tổng dư nợ Tổng dự nợ/ tổng nguồn vốn = x 100% Tổng nguồn vốn Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đầu tư của ngân hàng và nghiệp vụ cho vay. Chỉ tiêu này giúp nhà đầu tư xác định quy mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tổng dư nợ trên vốn huy động (%) Tổng dư nợ Tổng dự nợ/ vốn huy động = x 100% Nguồn vốn huy động Chỉ tiêu này phản ánh tỷ suất cho vay trên tổng số nguồn vốn huy động được, giúp cho nhà phân tích so sánh được khả năng cho vay của ngân hàng với nguồn vốn huy động được.
Nợ xấu trên tổng dư nợ (%) Nợ xấu Nợ xấu/tổng dư nợ = x 100% Tổng dư nợ Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng, chỉ tiêu này càng nhỏ thì chất lượng tín dụng của ngân hàng càng cao 1. Hệ số thu nợ (%) Doanh số thu nợ Hệ số thu nợ = x 100% Doanh số cho vay Chỉ tiêu này đánh giá công tác thu nợ của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao phản ánh hoạt động thu nợ của ngân hàng càng hiệu quả, đồng thời thể hiện ý chí trả nợ của khách hàng cao, đồng thời nguồn vốn cho vay được quay vòng tốt và có hiệu quả. Vòng quay vốn tín dụng (vòng) Doanh số thu nợ Vòng quay vốn tín dụng = Dư nợ bình quân Trong đó: Dư nợ đầu kỳ + Dư nợ cuối kỳ Dư nợ bình quân = 2 Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, thời gian thu hồi vốn nhanh hay chậm 1.3 Các phương pháp nghiên cứu 1.
Phương pháp thu thập số liệu Thu thập các số liệu thông qua hồ sơ lưu trữ của phòng kinh doanh và phòng kế toán, kết hợp với phỏng vấn trực tiếp với khách hàng về qui trình cho vay của ngân hàng. Đồng thời tham khảo ý kiến của các cô chú, anh chị trong các phòng ban của ngân hàng - Thu thập số liệu thông qua các báo cáo thường niên của ngân hàng, như: Báo cáo tài chính, báo các hoạt động kinh doanh,. Phương pháp phân tích số liệu - Phương pháp tỷ trọng: Nghiên cứu kết cấu của các chỉ tiêu phân tích - Phương pháp đồ thị: Sử dụng các đồ thị để nghiên cứu các chỉ tiêu phân tích - Phương pháp so sánh bằng các chỉ tiêu phân tích: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích ∆y = Y1 - Y0 Trong đó: Y1: Chỉ tiêu năm sau Y0: Chỉ tiêu năm trước ∆y: Phần chênh lệch tăng giảm chỉ tiêu kinh tế Phương pháp này dùng để so sánh số liệu năm tính với số liệu năm trước của các chỉ tiêu phân tích nhằm tìm hiểu biến động, tìm nguyên nhân biến động, từ đó đề ra các biện pháp khắc phục. - Phương pháp so sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia giữa trị số chênh lệch của kỳ phân tích và kỳ gốc với kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế.
Y1 - Y0 ∆y = x 100% Y0 Trong đó: Y0: là chỉ tiêu kỳ gốc Y1: là chỉ tiêu kỳ phân tích ∆y: Biểu hiện tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế 21 Phương pháp này sử dụng để làm rõ mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích trong một khoảng thời gian nào đó nhằm so sánh tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu giữa các năm và so sánh tốc độ tăng trưởng giữa các chỉ tiêu, từ đó tìm ra nguyên nhân biến động và đề ra các giải pháp khắc phục.4 Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm về RRTD: A.Lange định nghĩa: “RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời gian” Timothy W.Koch cho rằng: “RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay thanh toán trễ hạn” RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Vậy RRTD là những thiệt hại kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn gốc và nợ lãi hoặc không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng do các nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. RRTD gây tổn thất về tài chính cho NHTM, đó là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn; trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản.
Biểu hiện của RRTD: - Khách hàng vay vốn không trả nợ hoặc không còn khả năng trả nợ. - Khách hàng trả nợ không đầy đủ. - Khách hàng vay trả nợ không đúng hạn. Phân loại RRTD: Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD được phân chia thành các loại sau: a.
Rủi ro giao dịch (Transaction risk): Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. - Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. - Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.
- Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. Rủi ro danh mục (Portfolio risk): Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại:Rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk) - Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. - Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.3 Nguyên nhân của RRTD: Nguyên nhân gây ra RRTD rất đa dạng, có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Một cách phân loại được nhiều ngân hàng thừa nhận là phân tích nguyên nhân gây ra từ phía người cho vay và người đi vay. Những nguyên nhân từ phía các NHTM có thể bao gồm: - Không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và điều kiện cho vay; - Chính sách và quy trình cho vay còn lỏng lẻo, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ hoặc phương pháp xem xét phân tích còn hạn chế, chưa chính xác; - Kỹ thuật cấp tín dụng chưa hiện đại, chưa đa dạng như: việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp, chủ yếu là tín dụng trực tiếp, sản phẩm tín dụng còn nghèo nàn; - Thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời để xem xét, phân tích hoặc phân tích thông tin không đầy đủ trước khi cấp tín dụng; - Do cán bộ ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, yếu kém về trình độ nghiệp vụ. Hoặc do vấn đề quản lý, sử dụng, đãi ngộ của cán bộ của các NHTM. Các nguyên nhân từ phía khách hàng: Các nguyên nhân dẫn đến việc khách hàng vay vốn không trả được nợ cho ngân hàng có rất nhiều, có thể sắp xếp theo hai nhóm như sau: * Nhóm nguyên nhân khách quan: Là những tác động ngoài ý muốn của khách hàng, như do thiên tai, hỏa hoạn; do sự ổn định của các chính sách kinh tế chưa chắc chắn, thay đổi đột ngột chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch; do hành lang pháp lý chưa phù hợp; do biến động của thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi.
* Nhóm nguyên nhân chủ quan: Là nguyên nhân nội tại của mỗi khách hàng. Trước hết là vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh còn rất ít so với nhu cầu.