Chương 1: Giới thiệu về tính cấp thiết, mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Trong chương tiếp theo, Chương 2, chúng tôi xem xét các tài liệu nghiên cứu liên quan đến kỷ luật thị trường trong phạm vi ngân hàng, và đưa ra giả thuyết về tác động của chính sách cổ tức đến chi phí vốn của ngân hàng. - Ở Chương 3: chúng tôi trình bày các phương pháp nghiên cứu trong - Chương 4: thể hiện kết quả nghiên cứu thực nghiệm - Sau cùng, Chương 5:tổng nghiên cứu và hàm ý một số chính sách 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Kỷ luật thị trường trong ngân hàng Các nghiên cứu về kỷ luật thị trường đã có một truyền thống lâu đời trong mảng kinh tế tài chính. Tuy nhiên, kể từ cuộc thảo luận về việc ra đời của bảo hiểm tiền gửi vào năm 1933, phải đến cuối những năm 1990 thì các nhà quản lý mới có sự quan tâm trở lại về những lợi ích tiềm năng của việc tăng cường kỷ luật thị trường của các tổ chức tài chính nói chung và ngân hàng nói riêng được chấp nhận rộng rãi.
Trong những thập kỷ qua, lĩnh vực ngân hàng đã trải qua những bước chuyển mình sâu sắc. Các ngân hàng trở nên phức tạp hơn, đặc biệt là đối với các tổ chức lớn nhất, nắm giữ vị trí rất lớn trong các hoạt động phái sinh và ngoại bảng, tạo ra thách thức đối với các cơ quan quản lý trong việc đánh giá và kiểm tra kỹ lưỡng tình hình tài chính của họ. Do chức năng chính là trung gian nên các ngân hàng phải chịu rủi ro vỡ nợ. Để tránh vỡ nợ, các ngân hàng phải nắm giữ vốn để hấp thụ các khoản lỗ từ các khoản đầu tư vào các tài sản rủi ro.
Vấn đề nảy sinh khi khả năng thanh toán của các ngân hàng có thể không tính đến lợi ích của người gửi tiền và của toàn xã hội (Nier và Baumann (2006)). Và để tránh những sự kiện bi thảm này, giải pháp thông thường là tăng cường quy định và giám sát. Tuy nhiên, các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách, do hạn chế về nguồn nhân lực và kiến thức, không thể giám sát kỹ lưỡng hoàn toàn các động cơ chấp nhận rủi ro của ngân hàng. Các nhà hoạch định chính sách ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của thị trường, nhận ra những lợi ích nào có thể mang lại từ kỷ luật thị trường, và sau đó ủng hộ kỷ luật thị trường như một công cụ bổ sung cho kỷ luật quản lý truyền thống (Meyer (1999)).
Như đã nêu trong BIS (2001), “kỷ luật thị trường có khả năng củng cố các tiêu chuẩn vốn tối thiểu (trụ cột 1) và quy trình xem xét giám sát (trụ cột 2), và do đó thúc đẩy sự an toàn và lành mạnh trong các ngân hàng và hệ thống tài chính.” Hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua vào năm 2007 với sự sụp đổ của hàng loạt ngân hàng và dẫn đến suy thoái kinh tế thế giới, nhiều ý kiến chỉ trích đã được đưa ra, nhưng một trong những lý do được trích dẫn nhiều nhất là liên quan đến sự kém hiệu quả 7 của các quy định và kỷ luật thị trường trong các ngân hàng. Một số nhà bình luận nghi ngờ về tiền đề cơ bản của thị trường hiệu quả và tính hiệu quả của nó như một cơ chế thận trọng. Họ bày tỏ sự cảnh giác với cách mà những người tham gia thị trường không xác định và trừng phạt đầy đủ những ngân hàng chấp nhận rủi ro quá mức và sau đó phá sản hoặc phải được cứu trợ với tiền của người nộp thuế. Một số người thậm chí còn đặt câu hỏi liệu kỷ luật thị trường có còn có thể được sử dụng như một kênh để giám sát các ngân hàng hay không (Acharya, Anginer và Warburton (2016)), bởi vì những gì xảy ra trong cuộc khủng hoảng có thể đã tạo nên những ấn tượng khác nhau cho những người gửi tiền về sự can thiệp của chính phủ, sự an toàn của các ngân hàng, và do đó nhu cầu cần phải giám sát các ngân hàng.
Kể từ đó, các cơ quan quản lý tham gia cùng các học giả và các cơ quan quản lý kinh tế trong việc kêu gọi tăng cường kỷ luật thị trường của các tổ chức tài chính. Thành phần của kỷ luật thị trường Để bắt đầu cuộc thảo luận về kỷ luật thị trường và các cơ chế vận hành, điều quan trọng cần lưu ý là nền tảng đằng sau của kỷ luật thị trường là những người tham gia thị trường, bao gồm cả người cho vay và cổ đông, có thể đưa ra mức độ giám sát cao hơn và/hoặc ít nhất là liên tục hơn các cơ quan quản lý (Bliss (2004)). Theo Bliss và Flannery (2002), kỷ luật thị trường hiệu quả dựa vào hai thành phần chính: (i) Giám sát thị trường: Điều này đòi hỏi các bên tham gia thị trường phải có động cơ và khả năng giám sát hành động của các ngân hàng. Các biện pháp khuyến khích giám sát phụ thuộc vào sự đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của việc giám sát.
Mặc dù chi phí giám sát liên quan đến tính minh bạch và dễ tiếp cận của thông tin, lợi ích từ việc giám sát lại dựa trên quy mô của mức độ nắm giữ, do đó nhiều cổ đông riêng lẻ sẽ giám sát ít hơn một số cổ đông lớn. Yếu tố khả năng bao hàm mức độ minh bạch (tức là khả năng tiếp cận thông tin cần thiết về ngân hàng) và năng lực của người giám sát (tức là khả năng diễn giải đúng thông tin nhận được). Kết quả giám sát thị trường sẽ xuất hiện trong giá vốn chủ sở hữu và giá nợ hoặc mong muốn đầu tư hoặc giao dịch của những người tham gia thị trường. Trong một số trường hợp, việc giám sát thị trường có thể dẫn đến kết quả ở các hình thức kém 8 minh bạch hơn, như các yêu cầu về tài sản thế chấp và điều chỉnh vị thế ròng.
Tuy nhiên, chỉ giám sát thôi chưa phải là điều kiện đủ cho kỷ luật thị trường. (ii) Tác động thị trường: Để có hiệu quả, những người giám sát cần đưa ra các phản hồi gây ra tác động đến ban lãnh đạo ngân hàng để điều chỉnh hành vi của họ. Tác động có thể xuất phát trực tiếp từ những người tham gia thị trường, điều này được gọi là kỷ luật trực tiếp. Nó có thể xuất phát từ các tác nhân khác, chẳng hạn như các cơ quan quản lý tham khảo thông tin do giám sát thị trường cung cấp để đưa ra các hành động điều chỉnh quyết định quản lý, được gọi là kỷ luật gián tiếp.
Hơn nữa, kỷ luật có thể có một trong hai hình thức. Kỷ luật có thể ở dạng tiền kỳ hoặc hậu kỳ: Mối đe dọa về các kết quả bất lợi sẽ đòi hỏi ban giám đốc ngân hàng phải thực hiện các hành động phù hợp với lợi ích của các bên liên quan. Đây là tiền kỳ. Kỷ luật hậu kỳ bắt nguồn từ các phản ứng của các hành động quản lý.
Những người tham gia thị trường có thể trừng phạt các ngân hàng theo nhiều cách khác nhau, bao gồm rút tiền hoặc bán chứng khoán. Rủi ro đạo đức trong ngân hàng Như đã nêu ở trên, các ngân hàng ngày càng trở nên phức tạp và mờ đục hơn. Đổi mới tài chính cùng với mức tập trung ngày càng cao của thị trường tài chính là thách thức đối với những người giám sát và những người tham gia thị trường để thực sự định giá bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập của ngân hàng. Các cơ quan quản lý kêu gọi tăng cường kỷ luật thị trường dựa trên quan điểm rằng có thể không có đủ kỷ luật thị trường từ những người tham gia thị trường.
Bản thân điều này một phần là do các quy định thực tế bị bóp méo hoặc bị nhận thức sai lệch. Thật vậy, vì một số đối tác ngân hàng thiếu năng lực để giám sát các ngân hàng (ví dụ: người gửi khoản tiền nhỏ), chính phủ giới thiệu bảo hiểm tiền gửi như một phương thức để bảo vệ những người 9 gửi khoản tiền nhỏ và thiếu thông tin, và để ngăn chặn các ngân hàng bị rút tiền hàng loạt (Keeley (1990)). Tuy nhiên, chương trình bảo hiểm này không may lại đi cùng với rủi ro đạo đức ngân hàng. Do kết quả cuối cùng đã được lường trước, người gửi tiền được bảo hiểm sẽ không quan tâm đến rủi ro và mất động lực để giám sát các ngân hàng.
Bảo hiểm tiền gửi tạo ra một nhóm đối tác ngân hàng không còn động lực giám sát. Cần lưu ý rằng những người gửi tiền được bảo hiểm có thể giám sát không hiệu quả, thường xuyên thiếu năng lực để đưa ra các đánh giá về rủi ro và định giá sáng suốt. Quan trọng hơn, bảo hiểm tiền gửi có nghĩa là các ngân hàng có thể huy động vốn từ các nhà đầu tư không có nhu cầu giám sát mạnh mẽ, do đó làm suy yếu các nguồn kỷ luật khác (người cho vay không có bảo hiểm nhạy cảm với rủi ro). Trong khi những người gửi tiền được bảo hiểm được hưởng sự bảo trợ hợp pháp, thì nhiều cơ quan quản lý và học giả cũng lo ngại rằng những người tham gia thị trường có thể nhận biết sự bảo trợ hiển nhiên đối với các đối tác của các ngân hàng lớn.
Đây là "quá lớn để thất bại" hoặc "quá lớn để đỗ vỡ" (“too-big-to-fail” or “too big to be allowed to implode quickly”) (Berger và Udell (1994), Bernanke, Lown, và Friedman (1991)). Các cơ quan quản lý dường như ngày càng trở nên “quá tải” trong việc gánh vác trách nhiệm theo dõi và giám sát các ngân hàng lớn và phức tạp. Họ nhận ra rằng mức độ phức tạp và định giá của các sản phẩm tài chính hiện đại có thể vượt quá khả năng của hầu hết các giám định viên và cả nguồn nhân lực của họ. Vấn đề này càng trở nên trầm trọng hơn do sự khan hiếm của các nguồn lực của cơ quan quản lý.
Logic pháp lý để tăng cường kỷ luật thị trường giả định rằng những người tham gia thị trường có thể có khả năng giám sát tập thể nhiều hơn các hoạt động của ngân hàng so với các cơ quan quản lý thiếu nhân sự hoặc ít nhất là cung cấp một sự giám sát liên tục hơn. Hơn nữa, một số người tham gia thị trường, ví dụ như các đối tác phái sinh, có thể có khả năng thực hiện các đánh giá phức tạp cần thiết tốt hơn.