Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đóng góp khoảng 15,2% GDP cả nước, cung ứng trên 50% sản lượng lương thực và 65% sản lượng thủy hải sản xuất khẩu. Giai đoạn 2000 - 2004, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tại khu vực tăng trưởng mạnh mẽ từ 16.760 tỷ đồng lên 41.128 tỷ đồng với tốc độ bình quân 36,34%/năm. Mặc dù nhu cầu đổi mới công nghệ là vô cùng cấp thiết, thực tế cho thấy hơn 31% máy móc thiết bị của các doanh nghiệp trong vùng ở tình trạng lạc hậu, cũ kỹ và 52% ở mức độ trung bình. Khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng truyền thống gặp nhiều rào cản do các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh cá thể thiếu hụt tài sản bảo đảm thế chấp.

Trước bối cảnh đó, cho thuê tài chính nổi lên như một giải pháp tài trợ vốn trung và dài hạn tối ưu, giúp doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị hiện đại mà không cần thế chấp tài sản bằng bất động sản. Công ty Cho thuê Tài chính II trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (ALC II - Agribank) được thành lập nhằm mở rộng kênh dẫn vốn hiện vật này cho các tỉnh phía Nam. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng hoạt động cho thuê tài chính của ALC II tại 13 tỉnh thành ĐBSCL trong giai đoạn 2002 - 2005, chỉ ra những kết quả đạt được khi dư nợ tăng từ 100.552 triệu đồng lên 293.784 triệu đồng. Đồng thời, đề tài xác định rõ các điểm nghẽn về cơ cấu nguồn vốn, sự mất cân đối trong danh mục tài sản cho thuê và tỷ lệ nợ xấu nhằm xây dựng hệ thống giải pháp chiến lược đồng bộ định hướng đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết trung gian tài chính hiện đại và chuẩn mực kế toán quốc tế về giao dịch thuê tài sản. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IASC, một giao dịch được xác định là cho thuê tài chính khi thỏa mãn ít nhất một trong bốn tiêu thức: quyền sở hữu tài sản được chuyển giao khi hết thời hạn thuê; bên thuê có quyền chọn mua tài sản theo giá tượng trưng; thời hạn thuê chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản; giá trị hiện tại của các khoản tiền thuê tối thiểu bằng hoặc lớn hơn giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng.

Khung pháp lý của nghiên cứu căn cứ vào Nghị định số 16/2001/NĐ-CP và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty Cho thuê Tài chính tại Việt Nam. Các khái niệm then chốt bao gồm: cho thuê tài chính thuần, bán và tái thuê (sale and leaseback), cho thuê vận hành, cho thuê hợp vốn (đồng tài trợ) và cho thuê giáp lưng. Luận văn tổng hợp bài học kinh nghiệm quốc tế từ nhóm các nước công nghiệp phát triển G7 (nơi doanh số cho thuê toàn cầu đạt 450 tỷ USD năm 1998) và các quốc gia đang phát triển như Hàn Quốc (nơi cho thuê tài chính chiếm 22,4% tổng vốn đầu tư thiết bị của khối tư nhân năm 1992 với doanh số vượt 8 tỷ USD) nhằm rút ra các tiền đề về hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng mạng lưới và quản trị rủi ro tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp thống kê mô tả, phân tích định lượng, so sánh chuỗi thời gian và phương pháp quy nạp kinh tế. Dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo kiểm toán của Công ty Cho thuê Tài chính II giai đoạn 2002 - 2005, báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Agribank, số liệu niên giám thống kê từ Tổng cục Thống kê và các báo cáo khảo sát ngành công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực ĐBSCL.

Quy mô mẫu phân tích bao quát toàn bộ 1.858 khách hàng có dư nợ tại công ty tính đến ngày 31/12/2005, trong đó tập trung phân tích sâu dữ liệu từ Chi nhánh Cần Thơ - đơn vị phụ trách trực tiếp địa bàn các tỉnh ĐBSCL. Việc lựa chọn phương pháp phân tích so sánh tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng liên hoàn qua 4 năm liên tiếp (2002 - 2005) cho phép đánh giá chính xác biến động cơ cấu tài sản, chất lượng danh mục nợ và năng lực tự chủ vốn. Quá trình xử lý số liệu đảm bảo tính khách quan, minh bạch và gắn chặt với bối cảnh kinh tế vĩ mô trong giai đoạn Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô dư nợ cho thuê tài chính tại ĐBSCL tăng trưởng liên tục nhưng tỷ trọng trong tổng dư nợ toàn công ty lại có xu hướng sụt giảm. Dư nợ tại ĐBSCL tăng từ 100.552 triệu đồng năm 2002 lên 180.931 triệu đồng năm 2003 (tăng 79,94%), đạt 247.067 triệu đồng năm 2004 và chạm mốc 293.784 triệu đồng năm 2005. Mặc dù tổng mức tăng trưởng đạt 192,17% sau 4 năm, tỷ trọng dư nợ ĐBSCL trên tổng dư nợ của ALC II lại giảm dần từ mức đỉnh 17,97% năm 2003 xuống 13,16% năm 2004 và chỉ còn 11,29% vào năm 2005. Con số 293.784 triệu đồng này chỉ chiếm tỷ khiêm tốn 1,04% so với tổng dư nợ 28.248 tỷ đồng của Agribank trên cùng địa bàn.

Thứ hai, cơ cấu khách hàng dịch chuyển rõ nét từ khối doanh nghiệp sang khối kinh tế tư nhân và hộ gia đình. Tỷ trọng dư nợ của các hộ kinh doanh cá thể tăng vọt từ 15,99% năm 2002 lên 30,67% năm 2003, đạt 35,27% năm 2004 và chiếm vị trí dẫn đầu với 37,69% năm 2005. Ngược lại, khối công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn giảm dần tỷ trọng từ 55,83% năm 2002 xuống 36,15% năm 2005. Khối doanh nghiệp tư nhân chiếm 23,10%, trong khi khối doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm tỷ trọng không đáng kể là 1,04% vào cuối năm 2005.

Thứ ba, danh mục tài sản cho thuê mất cân đối nghiêm trọng, tập trung cục bộ vào phương tiện vận chuyển. Năm 2002, dư nợ phương tiện vận tải đạt 48.075 triệu đồng (chiếm 47,81%), đến năm 2005 đã tăng vọt lên 220.026 triệu đồng, chiếm tới 74,89% tổng danh mục cho thuê tại vùng. Máy móc thiết bị ngành xây dựng chiếm 22,25% (65.358 triệu đồng). Đáng chú ý, nhóm máy móc thiết bị công nghiệp chế biến - vốn là thế mạnh cốt lõi của vựa nông thủy sản ĐBSCL - chỉ đạt 4.500 triệu đồng, chiếm vỏn vẹn 1,53% tổng dư nợ.

Thứ tư, nợ xấu có xu hướng gia tăng về cả giá trị tuyệt đối và tỷ lệ tương đối. Nợ xấu của ALC II tại ĐBSCL năm 2002 là 895 triệu đồng (tỷ lệ 0,89%), năm 2003 là 3.329 triệu đồng (1,84%), năm 2004 là 4.299 triệu đồng (1,74%) và năm 2005 tăng lên 9.498 triệu đồng (tỷ lệ 3,23%). Dù vẫn nằm trong hạn mức an toàn của ngân hàng mẹ, tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với mức nợ xấu bình quân 1,17% của toàn hệ thống Agribank tại ĐBSCL năm 2005.

Dư nợ CTTC ALC II tại ĐBSCL (2002 - 2005):
2002: [==========] 100.552 triệu VNĐ (Tỷ trọng: 17,21%)
2003: [==================] 180.931 triệu VNĐ (Tỷ trọng: 17,97%)
2004: [=========================] 247.067 triệu VNĐ (Tỷ trọng: 13,16%)
2005: [==============================] 293.784 triệu VNĐ (Tỷ trọng: 11,29%)

Thảo luận kết quả

Khi mô tả qua biểu đồ cơ cấu tài sản, sự áp đảo tuyệt đối của nhóm phương tiện vận chuyển (74,89%) cho thấy công ty chưa khai thác đúng tiềm năng công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn của vùng ĐBSCL - nơi xuất khẩu thủy sản đạt tới 1,8 tỷ USD và sản lượng nuôi trồng tăng thêm 490.000 tấn mỗi năm. Nguyên nhân chính là do phương tiện vận tải có tính thanh khoản cao, dễ định giá và thu hồi khi phát sinh rủi ro, cho thấy tâm lý e ngại rủi ro của cán bộ tín dụng khi thẩm định các dây chuyền chế biến chuyên dụng.

Về nguồn vốn, công ty rơi vào tình trạng phụ thuộc lớn vào vốn vay từ ngân hàng mẹ Agribank, luôn chiếm tỷ trọng từ 62,23% đến 67,35% tổng nguồn vốn hoạt động (đạt 2.057 tỷ đồng năm 2005). Vốn điều lệ 150 tỷ đồng chỉ chiếm 8,26% tổng nguồn, trong khi vốn huy động trung dài hạn trực tiếp từ tổ chức và dân cư chỉ chiếm 16,38% (tương đương 61.720 triệu đồng tại Chi nhánh Cần Thơ). Cấu trúc nguồn vốn này làm tăng chi phí vốn đầu vào, khiến lãi suất cho thuê tài chính luôn cao hơn lãi suất vay trung dài hạn tại các ngân hàng thương mại nhà nước. Bên cạnh đó, mạng lưới chỉ có 1 chi nhánh tại Cần Thơ quản lý toàn bộ 13 tỉnh thành, biên chế mỏng và thiếu các phòng ban chức năng như phòng marketing và phòng kỹ thuật thẩm định chuyên biệt đã hạn chế năng lực tiếp cận khách hàng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng hoạt động cho thuê tài chính của ALC II tại ĐBSCL, hệ thống giải pháp trọng tâm bao gồm:

  • Nâng cao năng lực tài chính và tái cấu trúc nguồn vốn: Ngân hàng mẹ Agribank cần cấp bổ sung vốn điều lệ cho ALC II lên mức tối thiểu 300 tỷ đồng trong giai đoạn 2006 - 2008 nhằm đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo thông lệ quốc tế. Đa dạng hóa các công cụ huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu kỳ hạn từ 1 đến 3 năm, giảm dần tỷ trọng vốn vay từ ngân hàng mẹ xuống dưới 50% trước năm 2010. Tối ưu hóa nguồn vốn tạm quản lý thông qua tiền đặt cọc, ký cược của nhà cung ứng (vốn có chi phí lãi suất 0%/tháng) để hạ lãi suất cho thuê đầu ra.
  • Mở rộng mạng lưới chi nhánh và tái cấu trúc nhân sự: Thành lập thêm 2 chi nhánh cấp hai hoặc phòng giao dịch trực thuộc tại các trung tâm kinh tế trọng điểm gồm Long Xuyên (An Giang) và thị xã Bạc Liêu trong giai đoạn 2007 - 2009. Thành lập ngay Phòng Marketing chuyên nghiệp (2 - 3 nhân sự) để xây dựng thương hiệu và trang thông tin điện tử, đồng thời thành lập Phòng Kỹ thuật để thẩm định độc lập chất lượng máy móc, giám định hao mòn tài sản và thúc đẩy nghiệp vụ cho thuê vận hành.
  • Đa dạng hóa danh mục tài sản và sản phẩm nghiệp vụ: Chuyển dịch cơ cấu đầu tư, nâng tỷ trọng máy móc chế biến thủy hải sản và thiết bị cơ giới hóa nông nghiệp (máy gặt đập, máy sấy lúa) lên mức 15% - 20% tổng dư nợ trước năm 2010. Đẩy mạnh triển khai nghiệp vụ bán và tái thuê (sale and leaseback) theo Thông tư 07/2006/TT-NHNN nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu giải phóng vốn lưu động bị ứ đọng trong tài sản cố định. Mở rộng hình thức cho thuê giáp lưng đối với các hợp tác xã vận tải và doanh nghiệp lữ hành.
  • Hoàn thiện chính sách khách hàng và lãi suất: Thực hiện phân loại khách hàng định kỳ để áp dụng cơ chế ưu đãi lãi suất cho khách hàng truyền thống có dự án khả thi. Áp dụng chính sách trả lãi đối với tiền ký cược của bên thuê tương đương với lãi suất tiền gửi có kỳ hạn nhằm giảm gánh nặng chi phí tài chính cho doanh nghiệp.
  • Kiến nghị hoàn thiện hành lang pháp lý vĩ mô: Đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho phép các công ty cho thuê tài chính được chiết khấu bộ hồ sơ thuê tài sản như các tổ chức tín dụng. Đề nghị Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế ban hành hướng dẫn miễn thuế giá trị gia tăng và lệ phí trước bạ đối với nghiệp vụ bán và thuê lại. Bộ Công an cần có văn bản thống nhất cho phép đăng ký sở hữu phương tiện vận tải đứng tên công ty cho thuê tài chính tại nơi khách hàng cư trú hoặc đăng ký kinh doanh theo Nghị định 65/2005/NĐ-CP.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban lãnh đạo và cán bộ nghiệp vụ tại các công ty cho thuê tài chính: Cung cấp bức tranh thực tiễn về mô hình kinh doanh, quản trị danh mục tài sản và kỹ thuật kiểm soát nợ xấu khi mở rộng thị phần tại khu vực nông nghiệp nông thôn.
  • Chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa, chủ trang trại, hộ kinh doanh tại ĐBSCL: Nắm bắt phương thức huy động vốn hiện vật thông qua thuê tài chính để đầu tư dây chuyền sản xuất, đổi mới công nghệ mà không bị áp lực về tài sản thế chấp.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Tài liệu tham khảo giá trị cho Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính trong việc tháo gỡ các nút thắt về thuế, đăng ký tài sản và hoàn thiện quy chế đồng tài trợ, cho thuê bất động sản.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp khung lý luận hoàn chỉnh, hệ thống dữ liệu thực nghiệm phong phú về thị trường tín dụng phi ngân hàng và các định chế tài chính trung gian tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Cho thuê tài chính khác biệt như thế nào so với vay vốn ngân hàng mua trả góp?
Trong cho thuê tài chính, quyền sở hữu tài sản thuộc về công ty cho thuê trong suốt thời hạn hợp đồng, bên thuê chỉ nắm quyền sử dụng và được chuyển giao quyền sở hữu hoặc mua lại theo giá tượng trưng khi kết thúc kỳ hạn. Bên thuê không cần thế chấp bất động sản mà dùng chính tài sản thuê làm vật bảo đảm. Ngược lại, vay mua trả góp ngân hàng chuyển giao quyền sở hữu cho người mua ngay từ đầu nhưng yêu cầu tài sản thế chấp bổ sung và thủ tục giải ngân bằng tiền mặt.

Tại sao dư nợ cho thuê tài chính của ALC II tại ĐBSCL chiếm tỷ trọng thấp so với tiềm năng vùng?
Đến cuối năm 2005, dư nợ của ALC II tại ĐBSCL đạt 293.784 triệu đồng, chỉ chiếm 1,04% tổng dư nợ Agribank tại khu vực. Nguyên nhân chủ yếu do mạng lưới giao dịch quá mỏng (chỉ có 1 chi nhánh tại Cần Thơ), nguồn vốn phụ thuộc vốn vay ngân hàng mẹ dẫn đến lãi suất cho thuê cao, cùng với tâm lý quen thuộc vay vốn thế chấp truyền thống của các chủ doanh nghiệp địa phương.

Rủi ro lớn nhất khi danh mục cho thuê tập trung 74,89% vào phương tiện vận tải là gì?
Việc tập trung quá lớn vào phương tiện vận chuyển đường bộ và đường thủy làm tăng độ nhạy cảm của danh mục trước các biến động về giá nhiên liệu, tai nạn giao thông và hao mòn tự nhiên. Khi thị trường vận tải suy giảm, nguy cơ khách hàng vi phạm hợp đồng tăng cao, gây áp lực lớn lên khâu thu hồi, lưu kho bãi và xử lý tài sản thanh lý của công ty.

Nghiệp vụ Bán và tái thuê (Sale and Leaseback) giải quyết bài toán vốn cho doanh nghiệp như thế nào?
Doanh nghiệp bán lại máy móc thiết bị hiện có cho công ty cho thuê tài chính để thu ngay một khoản tiền mặt lớn bổ sung cho vốn lưu động đang thiếu hụt, sau đó ký hợp đồng thuê lại chính tài sản đó để duy trì sản xuất liên tục. Theo Thông tư 07/2006/TT-NHNN, đây là công cụ tái cấu trúc tài chính hữu hiệu cho các nhà máy chế biến thủy sản tại ĐBSCL.

Tại sao việc định giá và kiểm tra kỹ thuật máy móc lại đóng vai trò quyết định trong cho thuê tài chính?
Vì công ty cho thuê tài chính là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản, nếu tài sản bị mua với giá khống hoặc bị hư hỏng, lạc hậu công nghệ do không có phòng kỹ thuật chuyên môn thẩm định, công ty sẽ chịu tổn thất vốn rất lớn khi khách hàng mất khả năng thanh toán và buộc phải thu hồi tài sản thanh lý.

Kết luận

  • Hoạt động cho thuê tài chính của ALC II tại ĐBSCL giai đoạn 2002 - 2005 đạt tốc độ tăng trưởng dư nợ 192,17%, cung ứng hơn 1.000 phương tiện vận tải và hàng trăm thiết bị xây dựng phục vụ phát triển hạ tầng vùng.
  • Tồn tại sự mất cân đối lớn trong cơ cấu khi phương tiện vận tải chiếm tới 74,89% danh mục, máy móc chế biến xuất khẩu chỉ chiếm 1,53%, nguồn vốn phụ thuộc hơn 65% vào vốn vay từ ngân hàng mẹ.
  • Luận văn đã xây dựng 5 nhóm giải pháp chiến lược: tăng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng, mở rộng chi nhánh tại Long Xuyên và Bạc Liêu, thành lập phòng Marketing và Kỹ thuật, đa dạng hóa sản phẩm sang bán - tái thuê và cho thuê vận hành.
  • Đề xuất các kiến nghị pháp lý cụ thể gửi Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ Công an nhằm hoàn thiện cơ chế đăng ký phương tiện và chính sách thuế đối với tài sản cho thuê tài chính.
  • Lộ trình triển khai đồng bộ các giải pháp đến năm 2010 sẽ tạo bước đột phá, đưa cho thuê tài chính trở thành kênh tài trợ vốn chủ lực thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Các doanh nghiệp và nhà quản lý quan tâm có thể ứng dụng trực tiếp mô hình phân tích và bộ giải pháp của công trình vào thực tiễn quản trị tín dụng trung dài hạn.