Chương 1. Lý luận về quản lý ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh (cấp Huyện). Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước của thành phố Quảng Ngãi Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước tại địa bàn thành phố quảng ngãi 6.
Tổng quan nghiên cứu - Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện chính sách quản lý ngân sách tỉnh (thành phó) trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác giả Lê Tiến Thiện, luận văn phân tích trên cơ sở quan điểm phát triển, quan điểm thị trường, phân tích nhằm phát hiện những cản trở sự phát triển, cản trở sự hình thành cơ chế thị trường để đưa ra những đề xuất nhằm đổi mới hệthống chính sách và các biện pháp tạo điều kiện thực hiện các đổi mới công tác quản lý ngân sách trong điều kiện kinh tế thị trường. ~ Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh với đề tài “Giđ¡ pháp hoàn thiện công tác quản lý NS nha nước tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng” của Nguyễn Minh Huy, Đà Nẵng năm 2014. Luận văn tập trung đến công tác quản lý thu, chỉ NSNN, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý NS tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. - Luận văn thạc sĩ kinh tế “Quán lý và sử dụng kinh phí ngân sách địa phương tại các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn Lâm Đông” của tác giả Nguyễn Văn Ngọc, Trường Đại học kinh tế Thành phó Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu những. vấn đề chung về quản lý sử dụng ngân sách nhà nước. Thực trạng quản lý và sử dụng ngân sách địa phương tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp ở Lâm Đồng. Tăng cường các biện pháp quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách địa phương tại cơ quan hành 4 chính, đơn vị sự nghiệp.
Luận văn chưa làm rõ vấn đề đầu tư xây dựng cơ bản. - Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh với đề tài “Hoàn thiện phân cấp quán lý NS nhà nước trên địa bàn tỉnh Hoà Bình” của tác giả Nguyễn Văn Thắng, Hà Nội năm 2014. Luận văn phân tích thực trạng phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN tỉnh Hòa Bình trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, đề tài đề ra một số giải pháp chưa cụ thể, khó các cơ quan chính quyền cấp huyện, xã áp dụng.
Qua nghiên cứu các luận văn trên, các tác giả đã hệ thống hoá lý luận về công tác quản ly NSNN va đề xuất các những giải pháp phù hợp với thực thực tiền hiện nay; tuy nhiên những nghiên cứu trên còn bao quát, chưa đi vào nghiên cứu, đề ra giải pháp quản lý NSNN để các địa phương nuôi dưỡng, quản lý tốt nguồn thu, tăng tính tự chủ của chính quyền cấp huyện, xã đề giảm dần bổ sung cân đối của cấp trên. Riêng đối với nội dung công tác quản lý ngân sách nhà nước tại thành phố Quảng Ngãi đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này. Chỉ có một số bài báo của tỉnh một đề tài về kiểm soát chỉ nhưng chưa đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể từng nội dung trên. Dé thực hiện đề tài, tôi đã quan tâm tham khảo, kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã đạt được ở những công trình trên, kết hợp khảo sát thực tiễn toàn bộ các yếu tố của hệ thống ngân sách trên địa bàn thành phó Quảng Ngãi để phân tích đánh giá một cách toàn điện nhằm đề xuất những giải pháp quản lý thu, chỉ ngân sách có hiệu quả hơn 5 CHUONG 1 LY LUAN CHUNG VE NGAN SACH NHA NUOC VA QUAN LY NGAN SACH NHA NUOC 1.
TONG QUAN VE NGAN SACH NHA NUGC 1. Khái niệm và bản chất của ngân sách nhà nước 1. Khái niệm về ngân sách nhà nước NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 đã xác định: “Ngân sách là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một nam dé bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.T] NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chỉ của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ.
Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chỉ thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện mục tiêu KT-XH. NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua. NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Quỹ này thẻ hiện lượng tiền huy động từ thu nhập quốc dân đẻ đáp ứng cho các khoản chỉ tiêu của Nhà nước, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động.
Mặt tĩnh thể hiện các nguồn tài chính được tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định được vào bất kỳ thời điểm nào. Mặt động thẻ hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào NSNN và từ NSNN phân bổ các nguồn tài chính cho các ngành, các lĩnh vực, các địa phương của nền kinh tế quốc dân. [2] NSNN là một phạm trù kinh tế tài chính, được coi là một hệ thống quan hệ kinh tế tồn tại khách quan.Hệ thống các quan hệ kinh tế này được đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính và bằng các 6 quan hệ kinh tế đó mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được tạo lập và sử dụng. Hệ thống các quan hệ kinh tế này bao gồm: - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp.
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp. ~ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư. - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính. Như vậy đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là một loại quỹ tiền tệ của Nhà nước với các khoản thu và các khoản chỉ của nó thì NSNN lại phản ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối, thể hiện các quan hệ phân phối và các quan hệ lợi ích kinh tế gắn với một chủ thể đặc biệt, đó là Nhà nước nhằm tạo lập và sử dụng nguồn tài chính quốc gia đẻ giải quyết các nhiệm vụ về KT-XH Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chỉ của mỗi cấp ngân sách.
Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hệ thông NSNN được tổ chức phù hợp với hệ thông tô chức bộ máy QLHC nhà nước. Ở nước ta bộ máy QLHC Nhà nước được tổ chức 4cấp trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc TW; quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn. Mỗi cấp chính quyền đều phải có ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật và phù hợp với khả năng quản lý của cấp chính quyền đó. Quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo những nguyên tắc cơ bản sau: - Ngan sách TW và ngân sách mỗi cấp chính quyền được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chỉ cụ thể - Ngân sách TW đóng vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ các địa phương chưa cân đối được ngân sách.
- Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu để chủ động thực hiện những nhiệm vụ được giao. 7 - Nhiệm vụ chi thuộc cấp ngân sách nào do cấp ngân sách đó cân đối. Trường hợp cơ quan QLNN cấp trên ủy quyền cho cơ quan QLNN cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chỉ thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó. - Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương.
Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3-5 năm. Số bổ sung từ ngân sách cấp trên được coi là khoản thu của ngân sách cấp dưới ~ Ngoài cơ chế bồ sung nguồn thu và cơ chế ủy quyền không được dùng ngân sách của cấp nay dé chi cho nhiệm vụ của cấp khác. Bản chất ngân sách nhà nước Về mặt hình thức biểu hiện có thể hiểu ngân sách là toàn bộ các khoản chỉ tiêu của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Các biểu hiện bên ngoài của NSNN rất phong phú rất đa dạng nhưng cũng rời rạc; đó là bảng tổng hợp các khoản thu, khoản chỉ của Nhà nước, là mức động viên các nguồn lực tài chính vào trong tay Nhà nước, những khoản đóng góp của các thành viên cho xã hội và các hình thức cấp phát của nhà nước cho các thành viên.
Tuy NÑSNN có biểu hiện rời rạc phân tán nhưng hoạt động của nó đều nằm trong sự kiểm soát của Nhà nước. Các nội dung bên trong của NSNN có mối quan hệ chặt chẽ nhau, phần lớn nguồn thu NSNN mang tính chất bắt buộc, thu hoàn toàn thông qua hình thức thuế và phí, lệ phí, còn các khoản chi phần lớn mang tinh chat cấp phát không hoàn lại, trừ trường hợp góp vốn tham gia các tổ chức kinh tế. Và chính nội dung này đóng vai trò quyết định sự tồn tại của NSNN. [2] Tuy nhiên, bản chất kinh tế của NSNN được hình thành từ các mối quan hệ bên trong trong quá trình hoạt động của nó.
Hoạt động của NSNN là hoạt động phân phối các nguồn tài chính, nguồn này được chia thành hai phần là phần nộp vào 8 NSNN và phần để lại cho xã hội, phần nộp vào NSNN tiếp tục được phân phối cho tiêu dùng, đầu tư và phần để lại cho xã hội cũng vậy.