Quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục tại huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum

Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế nghiên cứu quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

93
16
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Luận văn và Bối cảnh Nghiên cứu

Luận văn Thạc sĩ Quản lý Kinh tế của Đinh Thị Thắng, Đại học Đà Nẵng (2019) tập trung phân tích, đánh giá công tác quản lý chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Luận văn được thực hiện trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, đặt giáo dục và đào tạo ở vị trí trung tâm. Tuy nhiên, việc phân bổ và sử dụng NSNN cho giáo dục ở các địa phương, đặc biệt là vùng khó khăn như huyện Đăk Tô, vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Luận văn chỉ ra thực trạng nguồn lực NSNN cho giáo dục ở Đăk Tô còn hạn hẹp, việc quản lý chi chưa hiệu quả, chưa phát huy hết tiềm năng. Điều này được thể hiện qua trích dẫn: "Huyện Đăk Tô là một huyện miền núi, kinh tế còn nhiều khó khăn, nguồn lực NSNN hạn hẹp... việc quản lý và sử dụng các khoản ngân sách này chưa được hiệu quả.". Chính vì vậy, nghiên cứu này mang tính thời sự và có ý nghĩa thực tiễn cao, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNN cho giáo dục ở địa phương.

II. Cơ sở Lý luận và Nội dung Quản lý Chi NSNN cho Giáo dục

Luận văn đã xây dựng cơ sở lý luận vững chắc về NSNN và chi NSNN cho giáo dục, bao gồm khái niệm, chức năng, nguyên tắc, quy trình quản lý NSNN. Đặc biệt, luận văn nhấn mạnh vai trò của NSNN trong việc đảm bảo nguồn lực cho sự nghiệp giáo dục, góp phần phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí. Nội dung quản lý chi NSNN cho giáo dục được trình bày chi tiết qua các khâu: lập dự toán, phân bổ, chấp hành và quyết toán NSNN. Luận văn cũng phân tích các nguyên tắc quản lý chi NSNN như: công khai, minh bạch, hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích. Một điểm đáng chú ý là luận văn đã đề cập đến những khó khăn, vướng mắc trong quản lý chi NSNN cho giáo dục, chẳng hạn như: "... việc phân cấp quản lý ngân sách chưa rõ ràng, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị chưa được quy định cụ thể...". Việc phân tích này giúp làm rõ những tồn tại, bất cập cần khắc phục để nâng cao hiệu quả quản lý.

III. Thực trạng Quản lý Chi NSNN cho Giáo dục tại Huyện Đăk Tô

Chương này phân tích thực trạng quản lý chi NSNN cho giáo dục tại huyện Đăk Tô dựa trên số liệu thống kê, khảo sát thực tế. Luận văn chỉ ra đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện, ảnh hưởng đến việc phân bổ và sử dụng NSNN cho giáo dục. Đăk Tô là huyện miền núi, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, đời sống nhân dân còn khó khăn, nguồn thu NSNN hạn chế. Mặc dù đã có sự quan tâm đầu tư, nhưng quy mô giáo dục còn nhỏ, chất lượng chưa cao, cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Luận văn nêu rõ: "... Quy mô giáo dục đào tạo còn nhỏ, mạng lưới trường lớp chưa đáp ứng được nhu cầu...". Việc phân bổ NSNN cho giáo dục chưa hợp lý, còn dàn trải, chưa tập trung vào những lĩnh vực trọng điểm. Công tác quản lý, giám sát chi NSNN còn yếu kém, chưa phát huy được hiệu quả sử dụng nguồn lực.

IV. Giải pháp và Kiến nghị

Dựa trên những phân tích về thực trạng, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục tại huyện Đăk Tô. Cụ thể, cần tăng cường nguồn thu NSNN, ưu tiên phân bổ cho giáo dục; hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý NSNN, nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc sử dụng NSNN; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài chính giáo dục. Luận văn cũng kiến nghị các cấp chính quyền quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi để huyện Đăk Tô phát triển giáo dục, đào tạo, góp phần nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo. Giá trị thực tiễn của luận văn thể hiện ở việc đề xuất các giải pháp cụ thể, khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của huyện Đăk Tô. Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách trong lĩnh vực giáo dục.

16/12/2024
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý về chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện đăk tô tỉnh kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Cơ sở lý luận về quán lý chỉ NSNN cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo Chương 2: Thực trạng công tác quản lý về chỉ NSNN cho sự nghiệp giáo dục của trên địa bàn huyén Bak T6, tinh Kon Tum Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lÿ về chỉ ngân sách cho sự nghiệp giáo dục tại Phòng GD&ĐT huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum CHUONG I CO SO LY LUAN VE QUAN LY CHI NSNN CHO SU’ NGHIỆP GIÁO DỤC 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NSNN VÀ CHI NSNN 1. Ngân sách nhà nước a. Khai niệm ngân sách nhà nước Theo Khoản 14 Điều 4 Luật ngân sách nhà nước năm 2015 có quy định: "Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước được cự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẳm quyén qu át định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.

[14] Ngoài ra có thể hiểu, NSNN là quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ chung của một quốc gia được hình thành dựa vào việc thu các loại thuế, phí và lệ phí. Hoạt động thể hiện quyền lực của bộ máy nhà nước khi tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia trên cơ sở luật định. Chức năng của Ngân sách nhà nước ~ Chức năng phân phối của NSNN: Trong chức năng này, chính phủ thay mặt Nhà nước thực hiện phân phối nguồn lực tài chính thông qua cung cấp tài trợ vốn cho các doanh nghiệp (thường là các doanh nghiệp mà Nhà nước là chủ sở hữu toàn bộ hay bộ phận); hoặc cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn từ NSNN. Hoạt động Phân phối này của Nhà nước có mặt trong các khâu phân phối lần đầu là phân phối lại tổng giá trị sản phẩm xã hội và các nguồn tài chính khác dưới hình thức động viên nguồn thu vào NSNN theo các luật định như thuế, phi, lệ phí.

sau d6 phan ph lại thông qua các khoản chỉ đầu tư phát triễ và chỉ thường xuyên cho nên kinh tế - xã hội. ~ Chức năng giám đốc: “là việc giám sát, đôn đốc, kiểm tra được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, cùng với quá trình vận động của các 10 đối tượng phân phối của NSNN. Chức năng giám đốc gắn liền với chức năng. phân phối NSNN thông qua phân phí sm tra, giám sát và nhờ có kiểm.

tra, giám sát mà quá trình phân phối NSNN được thực hiện đúng pháp luật, có hiệu quả. Thông qua chức năng giám đốc của NSNN, nhà nước kiểm soát tình. hình tài chính vĩ mô”. Sự ra đời và tồn tại của ngân sách như tính chất cần thiết tập hợp cân đối thu, chỉ của Nhà nước; “Các khoản thu phải thực hiện theo luật định, các khoản chỉ phải dựa theo tiêu chuẩn, định mức và dự toán được cấp có thắm.

quyền phê duyệt. Chức năng của NSNN phải có nhiệm vụ thống nhất tập hợp. các khoản thu, chỉ. Sự thống nhất đó thể hiện cả hệ thống ngân sách, nghĩa là luôn giữ vững mỗi quan hệ và loại bỏ sự tùy tiện giữa thu và chỉ ngân sách trong phạm vi thời gian ấn định không tách rời nhau.

Việc tập hợp cân đối thu, chỉ ngân sách là vấn để có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực tài chính quốc gia; thông qua đó mà sự kiểm tra, giám sát việc thu, chỉ ngân sách có đúng luật định và có hiệu quả hay không” ©. Vai trò của Ngân sách Nhà nước Trong điều kiện kinh tế thị trường, NSNN có vai trò đăm bảo nguồn tài chính để thực hiện chức năng của Nhà nước, để bảo đảm cơ sở kinh tế duy trì sự tồn tại của thể chế chính trị, thúc đẩy tăng trưởng, thức hiện chức năng ổn định và điều chinh kinh tế vĩ mô của Nhà nưới „ bù đắp những khiểm khuyết của thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái. Vai trò của NSNN được thể hiện ở các khía cạnh sau: ~ Việc Huy động đủ nguồn tải chính cho việc đảm bảo nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước Để duy trì tổ chức bộ máy Nhà nước và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của mình trên cơ sở nguồn lực tài chính vững mạnh. quyền lực chính trị, Nhà nước đã kêu gọi sự đóng góp của xã hội dưới hình.

" thức thuế, phí, lệ phí, trai phiếu. để có đủ nguồn lực đảm bảo nhu cầu chỉ tiêu của mình. Tuy nhiên, Nhà nước cũng cần chú ý đến mức độ động viên. nguồn tài chính.

Tỷ lệ động viên nguồn tải chính vào ngân sách đổi với tổng sản phẩm quốc nội sao cho phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỹ. Mức động viên các nguồn lực tài chính từ các chủ thể trong xã hội thông qua thuế và các khoản thu khác vào ngân sách phải hợp lý vừa thúc đẩy kinh tế xã hội vừa đảm bảo duy trì sự tổn tại và tăng cường sức mạnh cho bộ máy Nhà nước. ~ Là công cụ điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế - xã hội Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh của các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế chủ yếu tuân theo sự: tiết của quy luật vốn có của thị trường. Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh tế mà chỉ sử dụng luật pháp và các công cụ tài chính, giá cả, tiền tệ dé quan lý.

Cũng trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần. kinh tế tồn tại và tự do cạnh tranh, tự do liên kết hoạt động. Kinh tế thị trường. tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ.

Bên cạnh những ưu điểm thì kinh tế thị trường vẫn còn tồn tại những. khiếm khuyết như: có những hành vi vi phạm pháp luật như buôn lậu, gian lận thuế,. tài nguyên môi trường bị làm dụng, hủy hoại; xã hội phân hóa. Để khắc phục những khiếm khu) đó, Nhà nước đã sử dụng hàng loạt các công cụ tài chính trong đó có Ngân sách nhà nước được coi là một trong những công cụ chủ yếu để điều tiết quản lý vĩ mô nền kinh tế xã hội.

Có thể thấy vai trò điều chính vĩ mô của Ngân sách nhà nước đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trên 3 mặt tương ứng sau: Về mặt kinh tế: Kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của NSNN Về mặt thị trường: NSNN là công cụ để bình ôn giá cả, én định thị 12 trường và chống lạm phát. Về mặt xã hội: NSNN là công cụ điều chỉnh thu nhập, tạo sự công bằng cho các giai cấp trong xã hội 1. Chi ngân sách nhà nước Trong khuôn khổ của phạm trù tài chính công, có thể khái niệm chỉ NSNN là các khoản chỉ tiêu của các cắp chính quyển, các cơ quan quản lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp được sự kiểm soát và tài trợ bởi Chính phủ. Chi NSNN phan ánh trị giá của các loại hàng hóa mà Chính phủ mua vào để qua đó cung cắp các loại hàng hóa công cho xã hội nhằm thực hiện các chức.

năng của Nhà nước Luật NSNN năm 2002 tại khoản 2, diều 5 đã xác định "nồi dung chỉ ngân sách nhà nước bao gâm các khoản chỉ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đảm bảo hoạt động của bộ máy Nhà nước, chỉ trả nợ của Nhà nước, chỉ viện trợ và các khoản chỉ khác theo quy định của pháp tật [I3] Luật NSNN năm 2015 tại khoản 2 điều 5 đã xác định “nội dung chỉ NSNN gồm: chỉ đầu tư phát triển, chỉ dự trữ quốc gia, chỉ thường xuyên, chỉ trả nợ lãi, chỉ viện trợ, chỉ các khoản chỉ khác theo quy định của pháp luật " [4] Như vậy có thể hiểu, chỉ NSNN là việc sử dụng quỹ tiền tệ quốc gia nhằm thúc đây kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đắt nước thông qua việc sử dụng tiền để điều hòa các mối quan hệ kính tế, hoặc đầu tư xây dựng cơ sở. vat chit, ha ting cho xã hội 1. Quản lý chi NSNN a. Khải niệm Theo cách hiểu đơn thuần, quản lý chỉ NSNN là quản lý những khoản.

chỉ tiêu của Nhà nước, và hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan 13 chuyên quản của nhà nước, các tổ chức cá nhân được nhà nước trao quyền. a phủ sử dụng quản lý chỉ NSNN như công cụ để thực hiện chính sách tài khóa trong đời sống kinh tế xã hội, đảm bảo cho việc chỉ NSNN đạt hiệu quả cao nhất. Việc thực hiện Chi ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua phân bổ ngân sách, tuy nhiên quản lý chỉ tiêu ngân sách mới bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân. Rõ ràng quản lý chỉ ngân sách có vai trò quyết định hiệu quả trong sử dụng vốn ngân sách.

Công tác quản lý chi NSNN & nước ta được phân quyển cho hai co ‘quan quản lý là cơ quan tài chính và Kho bạc nhà nước. Cơ quan tài chính có nhiệm vụ quản lý quá trình phân bổ ngân sách theo đúng mục tiêu và chế độ đã được Nhà nước quy định. Kho bạc nhà nước giám sát quá trình sử dụng ngân sách nhằm đảm bảo việc sử dụng đúng theo chế độ quy định hiện hành. Thực chất của quản lý chỉ NSNN là giám sát quá trình xác định các nhiệm vụ chỉ NSNN, đảm bảo mồi quan hệ hợp lý giữa các khoản chỉ cho các nhiệm vụ đó đồng thời giám sát quá trình sử dụng thực tế NSNN.

Mục tiêu của quản lý chỉ NSNN là đảm bảo sử dụng ngân sách tiết kiệm, hiệu quả phù hợp với yêu cầu thực tế tạo tiền đề đẻ Nhà nước thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình trong từng thời kỳ nhất định. Đặc điểm Quan chi NSNN mang một số đặc điểm sau đây: ~ Đơn quản lý chỉ ngân sách là các cơ quan nhà nước và thực hiện quản lý chỉ trên cơ sở các quy định hiện hành của pháp luật. Công tác quản lý chỉ ngân sách của các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương được thực hiện trên cơ sở quy định hiện hành của Pháp luật nhằm dam bảo tính khách quan, kinh bạch, chuẩn hóa. Đây là điểm khác biệt quan.

trọng giữa quản lý chỉ ngân sách nhà nước và quản lý tài chính của các chủ thể không phải là nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục tại huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum" của tác giả Đinh Thị Thắng, dưới sự hướng dẫn của PGS. Đỗ Ngọc Mỹ, tập trung vào việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước trong lĩnh vực giáo dục tại huyện Đăk Tô. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại mà còn đưa ra những khuyến nghị thiết thực cho việc sử dụng ngân sách một cách hiệu quả hơn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục địa phương. Đối với độc giả, bài viết mang lại lợi ích trong việc hiểu rõ hơn về các chính sách ngân sách và tác động của chúng đến sự phát triển giáo dục.

Nếu bạn quan tâm đến các vấn đề liên quan đến quản lý kinh tế và ngân sách, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Chính sách nhà ở xã hội ở Việt Nam: Nghiên cứu luận văn ThS năm 2015 để có cái nhìn rộng hơn về chính sách tài chính trong các lĩnh vực khác. Bên cạnh đó, bài viết Hoàn thiện công tác quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn ngân sách nhà nước tại tỉnh Yên Bái cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về quản lý ngân sách trong lĩnh vực xây dựng. Cuối cùng, bài viết Tăng cường quản lý vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển hạ tầng nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về quản lý ngân sách trong lĩnh vực nông nghiệp.