Chương 1: Giới thiệu: chƣơng này sẽ trình bày về tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu; đóng góp của nghiên cứu cũng nhƣ cấu trúc đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu: chƣơng này trình bày cơ sở lý thuyết về bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán, tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan của các tác giả trong và ngoài nƣớc, từ đó làm cơ sở lựa chọn mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phƣơng pháp nghiên cứu: dựa trên cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu, lựa chọn mô hình xác định mức độ bất cân xứng thông tin và mô hình xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến mức độ bất cân xứng thông tin; trình bày phƣơng pháp thu thập và xử lý số liệu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: dựa trên các kết quả chạy mô hình, chƣơng 4 của luận văn tiến hành (i) Đánh giá mức độ bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, (ii) Đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng đến bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách: dựa trên kết quả nghiên cứu và thảo luận, chƣơng này sẽ đúc rút kết luận và từ đó đƣa ra các gợi ý, khuyến nghị để giảm thiểu tình trạng bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. z 10 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 2.
Nghiên cứu lý thuyết nền tảng về bất cân xứng thông tin Lý thuyết bất cân xứng thông tin G.Akerlof (1970) Theo Auronen (2003, trang 7), ngƣời đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng là G. Trong quá trình nghiên cứu tình huống mua bán xe Ô tô trên thị trƣờng, Ông cho rằng ngƣời bán xe có tính chủ động hơn đối với ngƣời mua. Ngƣời bán có thể biết rõ đặc tính của chiếc xe mình muốn bán và muốn bán với giá cao. Akerlof giả định rằng: xác suất để mua xe tốt là q thì xác suất mua xe xấu là (1-q) (thị trƣờng đƣợc phân loại xe tốt và xấu).
Khi đó mức giá trung bình (P) đƣợc giả định mua xe là: P = P1q + P2(1-q). Trong đó: P1 là giá xe tốt; P2 là giá xe xấu. Ông lại cho rằng ngƣời mua xe tiềm năng xem mức giá của các loại xe tốt hay xấu là ngang nhau, vì họ không thể phân biệt đặc tính của xe nên họ chỉ có thể mua xe (bất kể tốt hay xấu) tại mức giá trung bình trên thị trƣờng. Thực tế, đối với xe tốt thì giá cao hơn mức giá trung bình.
Vì thế tại mức giá trung bình đó chỉ có những xe xấu đƣợc giao dịch. Khi đó xác suất để mua xe tốt bây giờ là q’ < q. Nhƣ vậy ngƣời mua thƣờng là mua đƣợc những chiếc xe xấu, việc lựa chọn xe để mua trong trƣờng hợp này gọi là sự lựa chọn bất lợi vì họ có thể trả giá cao hơn đối với xe xấu và ngƣời bán lại không thể bán đƣợc do giá bán thấp hơn chất lƣợng xe tốt. Một phƣơng cách để giảm bớt thông tin bất cân xứng trên thị trƣờng là thông qua các tổ chức trung gian trên thị trƣờng.
Tổ chức trung gian này có thể giới thiệu rõ hơn z 11 thông tin sản phẩm đến với ngƣời mua nhƣ bảo hành, nhãn mác, thông số kỹ thuật… chính điều này đã làm cho các bên giao dịch cân bằng hơn về thông tin sản phẩm, khi đó giao dịch sẽ dễ dàng thực hiện. Lý thuyết phát tín hiệu Michael Spence (1973) Tiếp tục phát triển lý thuyết của G. Akerlof, Spence đã nghiên cứu trên thị trƣờng Lao động (Auronen, 2003, tr. Spence xem việc thuê lao động là một quyết định đầu tƣ không chắc chắn.
Tính không chắc chắn ở đây là việc thuê lao động mà ngƣời chủ không biết đƣợc khả năng đóng góp, khả năng tạo ra năng suất của ngƣời lao động là bao nhiêu. Vì thế việc thuê lao động có thể thuê đƣợc lao động có chất lƣợng hoặc không. Một trong những phƣơng cách giúp ngƣời chủ thuê đƣợc lao động có năng lực đó là ông chủ có thể xem qua chất lƣợng bằng cấp, kinh nghiệm,… của ngƣời lao động. Đó đƣợc gọi là những tín hiệu đƣợc phát ra của ngƣời lao động.
Nhƣ vậy việc phát tín hiệu này đã làm giảm thông tin bất cân xứng giữa những ngƣời lao động và ông chủ. Lý thuyết cơ chế sàng lọc Joseph Stiglitz (1975) Cơ chế sàng lọc của J. Stiglitz cũng là lý thuyết phát triển lý thuyết của Michael Spence (Auronen, 2003, tr. Theo ông bất cứ hàng hóa nào cũng đều có những đặc tính khác nhau nhƣ chất lƣợng khác nhau, mẫu mã khác nhau nên cần phải phân loại chúng.
Đối với lao động cũng có lao động có khả năng, tay nghề cao và lao động có khả năng, tay nghề thấp. Vì vậy không thể trả lƣơng theo một mức lƣơng cân bằng. Để khuyến khích ngƣời có khả năng cao, tạo ra năng suất lao động cao thì cần phải trả lƣơng cao để khuyến khích họ. Đối với ngƣời có khả năng thấp, việc cố gắng đạt đƣợc một mức năng suất sản xuất để nhận đƣợc lƣơng cao sẽ tốn chi phí rất lớn so với ngƣời có khả năng cao.
Vì vậy việc phân nhóm lao động để trả lƣơng là việc làm cần thiết để khuyến khích những ngƣời có khả năng nâng cao trình độ và mang lại hiệu quả cao cho xã hội. Các khái niệm về bất cân xứng thông tin Nguyễn Trọng Hoài (2006) cho rằng: “Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin còn bên khác thì không biết đích thực mức độ thông tin ở mức nào đó”. Theo Kyle “Thông tin bất cân xứng trên thị trƣờng chứng khoán xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tƣ sở hữu đƣợc thông tin riêng” (Kyle, 1985 trích trong Ravi, 2005) hoặc có nhiều thông tin đại chúng hơn về một công ty (Kim và Verrecchia, 1994 và 1997 trích trong Ravi, 2005). Theo nhà kinh tế học Fredic S.Miskin Đại học Columbia, Hoa Kỳ: “Thông tin không cân xứng là sự không ngang bằng về một thông tin mà mỗi bên tham gia vào một giao dịch biết đƣợc”6.
Nhƣ vậy, bất cân xứng thông tin đƣợc hiểu và tiếp cận trong luận văn này là trạng thái trong giao dịch có một bên nắm giữ thông tin ở mức độ tốt hơn so với bên còn lại và những thông tin này có ảnh hƣởng đến việc ra quyết định của ngƣời nắm giữ nó. Hệ quả của bất cân xứng thông tin Hoạt động giao dịch cổ phiếu trên thị trƣờng chứng khoán cũng giống nhƣ các giao dịch ngân hàng (cung cấp tín dụng), bảo hiểm hay các hoạt động mua bán một sản phẩm nào đó, do thông tin của các bên giao dịch khác nhau nên luôn tồn tại hai hệ quả của giao dịch này là lựa chọn ngƣợc và rủi ro đạo đức. Lựa chọn ngược “Lựa chọn ngƣợc là kết quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trƣớc khi thực hiện giao dịch hay nói cách khác trƣớc khi ký hợp đồng” (Nguyễn Trọng Hoài, 2006). Điều mà bất kỳ nhà đầu tƣ nào cũng mong muốn là lợi nhuận, đối với thị trƣờng chứng khoán lợi nhuận đƣợc thể hiện thông qua việc mua cổ phiếu giá thấp bán với giá cao (lợi vốn) hoặc đạt đƣợc giá trị cổ tức (lợi tức) kỳ vọng mà nhà đầu tƣ dự kiến.
Nếu kết quả đầu tƣ của nhà đầu tƣ không hiệu quả tức nhà đầu tƣ vi phạm những điều đã nói trên, thì ít nhiều đã tồn tại thông tin bất cân xứng trong 6 “Kinh tế học về tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính”, NXB Khoa học Kỹ thuật, 1999, trang 907. z 13 hoạt động đó và hệ quả của nó là chi phí lựa chọn ngƣợc mà nhà đầu tƣ phải gánh chịu. Thông thƣờng trong hoạt động mua bán, ngƣời bán là ngƣời nắm rõ thông tin về sản phẩm của mình và dĩ nhiên khi đó chi phí lựa chọn ngƣợc sẽ do ngƣời mua gánh chịu. Trên thị trƣờng chứng khoán cũng vậy công ty niêm yết luôn nắm thế chủ động hơn so với nhà đầu tƣ.
Cụ thể, căn cứ vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh và các hợp đồng kinh doanh, các công ty niêm yết sẽ biết rõ khả năng đạt đƣợc lợi nhuận kỳ vọng của mình là bao nhiêu nên các công ty này sẽ biết chắc chắn giá bán trên mỗi cổ phiếu đó bao nhiêu là hợp lý. Vì ngoài phƣơng pháp xác định giá cổ phiếu bằng giá trị tài sản, còn có phƣơng pháp xác định giá cổ phiếu theo cổ tức. Thế nên, nếu nhà đầu tƣ không xác định chính xác cổ tức kỳ vọng của công ty niêm yết thì sẽ định giá cổ phiếu không chính xác và nếu định giá cao hơn giá trị thực của cổ phiếu thì sự bất lợi hoàn toàn thuộc về nhà đầu tƣ. Rủi ro đạo đức Hệ quả thứ hai mà thông tin bất cân xứng gây ra là rủi ro đạo đức, nó “xuất hiện do hành vi bị che đậy và xuất hiện sau khi ký hợp đồng” (Nguyễn Trọng Hoài, 2006).
Với các hợp đồng vay ngân hàng hay bảo hiểm thì rủi ro đạo đức phát sinh từ phía ngƣời đi vay hay đi mua bảo hiểm. Họ sử dụng tiền vay không đúng mục đích hay do đã đƣợc bảo hiểm nên họ sẽ bất cẩn hơn so với trƣớc khi mua bảo hiểm. Ở thị trƣờng chứng khoán, rủi ro đạo đức phát sinh nếu nhƣ những ngƣời đại diện điều hành công ty không sử dụng nguồn vốn hiệu quả và đúng mục đích. Do tính chất của đầu tƣ trên thị trƣờng là đầu tƣ gián tiếp nên việc quản lý, giám sát vốn đầu tƣ của các nhà đầu tƣ phải thông qua một số ngƣời đại diện để điều hành công ty.
Rủi ro đạo đức sẽ gia tăng nếu nhƣ tỷ lệ sở hữu cổ phần của những ngƣời đại diện thấp. Vì nếu hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả thì trách nhiệm của họ không cao và sự thiệt hại trên phần vốn góp là thấp. Chính vì thế, hiện nay tiêu chí đầu tiên để những cổ đông muốn là thành viên của Hội đồng quản trị thì họ phải có một tỷ lệ vốn góp nhất định nào đó.