CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1. Tổng quan về bảo hiểm phi nhân thọ 1. Khái niệm bảo hiểm phi nhân thọ Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử nền văn minh nhân loại và thậm chí cho tới giờ người ta vẫn chưa xác định được bảo hiểm xuất hiện từ khi nào. Vào cuối thế kỷ XV khi châu Âu thực hiện những chuyến đi khai phá tới châu Á và châu Mỹ, mở đường cho cái gọi là "cuộc cách mạng thương mại", ý tưởng về rủi ro và thành lập một quỹ chung để đề phòng và xử lý cho những trường hợp xấu, hay khẩn cấp xẩy ra đã xuất hiện cùng một lúc.
Nếu một đội tàu nhỏ tìm cách đi từ châu Âu sang châu Á giao thương mua bán hàng hoá và trở về với nhiều loại hàng hoá hấp dẫn, nhưng lại có nhiều rủi ro là một số tàu sẽ không thể hoàn thành chuyến trở về vì có thể tàu bị chìm do bão tố, lạc đường, bị cướp, đội thuỷ thủ bị chết do bệnh tật. Những người tham gia đầu tư vào những chuyến đi đó cảm thấy rất mạo hiểm và sự cần thiết phải cùng nhau chia sẻ rủi ro để tránh tình trạng một số người đầu tư bị mất trắng khoản đầu tư của mình do một rủi ro ngẫu nhiên xẩy đến với con tàu. Người ta đã tìm ra hai cách nhằm đáp ứng nhu cầu này. Cách thứ nhất là thành lập một liên doanh có vốn góp cổ phần, theo đó một nhóm những người cùng tham gia đầu tư vào một đội tàu chở hàng chung, cùng chia sẻ rủi ro khi xẩy ra tổn thất và cùng phân chia lợi nhuận mà liên doanh thu được.
Cách thứ hai là bảo hiểm, một hệ thống mà theo đó chủ hàng hay chủ tàu đề nghị trả một số tiền mặt (gọi là phí) cho những người khác nếu những người này đồng ý sẽ bồi thường cho các chủ hàng thuộc con tàu đã nêu trên không thể hoàn thành một chuyến đi cụ thể nào đó. Theo cách thức này, thay cho việc phát Luan van 8 triển trong cạnh tranh và rủi ro, việc chung vốn và bảo hiểm đã bổ sung cho nhau. Một số người (hay công ty) thu phí bảo hiểm bằng tiền mặt để đổi lấy một cam kết sẽ bồi thường cho cho chủ tàu trong trường hợp tàu bị tổn thất. Những người (công ty) bảo hiểm này đã tạo lập một quỹ chung mà họ cam kết sử dụng để thanh toán cho người được bảo hiểm khi xẩy ra tổn thất.
Người ta soạn ra một văn bản nêu rõ rủi ro (sự kiện được bảo hiểm, hoàn cảnh xẩy ra rủi ro, thời gian bảo hiểm) và người nhận bảo hiểm ghi rõ trong văn bản đó những điều khoản liệt kê này và tỷ lệ rủi ro mà người đó sẵn sàng nhận bảo hiểm. Một số người nhanh chóng nhận ra rằng rất nhiều thành viên trong cộng đồng những người nhận bảo hiểm không muốn một mình nhận bảo hiểm cho những rủi ro lớn. Vì vậy người ta kêu gọi mọi người mua cổ phần của các công ty bảo hiểm và công ty bảo hiểm sẽ thuê các chuyên gia để lựa chọn các rủi ro có thể bảo hiểm và bồi thường cho người được bảo hiểm bằng số tiền trích ra từ quỹ chung khi rủi ro xẩy ra. Quỹ chung này được xây dựng trên cơ sở số tiền mà công ty thu được sau khi bán cổ phần cho các cổ đông, phí bảo hiểm do người được bảo hiểm nộp cộng với thu nhập nhờ đầu tư từ nguồn tiền của quỹ.
Như vậy, bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động kiếm tìm lợi nhuận từ rủi ro mà khách hàng phải đối mặt, chấp nhận rủi ro là nguồn duy nhất mang lại lợi nhuận cho người nhận bảo hiểm. Bảo hiểm không chỉ là chuyển giao rủi ro mà còn có khả năng làm giảm rủi ro do người nhận bảo hiểm có thể tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán về các tổn thất khi chúng xẩy ra và quy luật đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là quy luật "số đông bù số ít". Luan van 9 Trong thực tế có nhiều quan niệm về bảo hiểm khác nhau, tuỳ thuộc vào việc nhìn nhận bảo hiểm ở các góc độ và cách thức tiếp cận khác nhau. Trên phương diện lý thuyết cơ bản, Bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm cho chính mình hoặc cho người thứ ba khác để trong trường hợp có rủi ro xẩy ra nằm trong phạm vi bảo hiểm sẽ được trả một khoản bồi thường từ người bảo hiểm, là người chịu trách nhiệm đối với những rủi ro đã cam kết và đền bù thiệt hại.
Như vậy, bảo hiểm phi nhân thọ là sự cam kết giữa người tham gia bảo hiểm với người bảo hiểm mà trong đó, người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm một số tiền nhất định khi có các sự kiện đã định trước xảy ra, còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm Việt Nam năm 2000 thì thuật ngữ bảo hiểm phi nhân thọ được hiểu như sau: Bảo hiểm phi nhân thọ là nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ. - Bảo hiểm tài sản Đây là loại bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tài sản (cố định hay lưu động) của người được bảo hiểm. Ví dụ như: Bảo hiểm cho thiệt hại vật chất xe cơ giới, bảo hiểm cho hàng hoá của các chủ hàng trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm tài sản của ông chủ nhà trong bảo hiểm trộm cắp.
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự Bên cạnh các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản còn có các nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự như : bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới ,bảo hiểm TNDS của chủ lao động , Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm , bảo hiểm trách nhiệm công cộng, …Theo luật dân sự , trách nhiệm dân sự của một chủ thể Luan van 10 ( như chủ tài sản, chủ doanh nghiệp, chủ nghề nghiệp…) được hiểu là trách nhiệm phải bồi thường các thiệt hại về tài sản, về con người… gây ra cho người khác do lỗi của người chủ đó. Trách nhiệm dân sự bao gồm trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng. Thông thường các dịch vụ bảo hiểm cung cấp sự bảo đảm cho các trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng. Vì đối tượng được bảo hiểm là phần trách nhiệm dân sự phát sinh của người được bảo hiểm đối với người bị thiệt hại (một người thứ ba khác) nên trong loại bảo hiểm này người được bảo hiểm là người có trách nhiệm dân sự cần được bảo đảm và cũng thường là người tham gia bảo hiểm.
Còn người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm lại là những người thứ ba khác. Người thứ ba trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự là những người có tính mạng, tài sản bị thiệt hại trong sự cố bảo hiểm và được quyền nhận bồi thường từ người bảo hiểm với tư cách là người thụ hưởng. Người thứ ba có quan hệ về mặt trách nhiệm dân sự với người được bảo hiểm nhưng chỉ có mối quan hệ gián tiếp với người bảo hiểm. - Các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ Ngoài các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm.
Bảo hiểm phi nhân thọ còn bao gồmcác nghiệp vụ bảo hiểm khác như bảo hiểm con người. Bảo hiểm con người trong bảo hiểm phi nhân thọ có những đặc điểm đó là hậu quả của những rủi ro mang tính chất thiệt hại vì rủi ro bảo hiểm ở đây là tai nạn, bệnh tật, ốm đau thai sản liên quan đến thân thể và sức khoẻ của con người. Những rủi ro ở đây khác với 2 sự kiện “sống” và “chết” trong bảo hiểm nhân thọ và vì thế tính chất rủi ro được bộc lộ khá rõ còn tính chất tiết kiệm không được thể hiện. Một số sản phẩm phổ biếntrong nghiệp vụ bảo hiểm con người trong bảo hiểm phi nhân thọ như: Bảo hiểm học sinh, bảo hiểm tai nạn 24/24, bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật… Luan van 11 1.
Vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ Bảo hiểm nói chung và các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng vừa có vai trò nền kinh tế – xã hội, đối với các doanh nghiệp bảo hiểm cũng như đối với người tham gia bảo hiểm, cụ thể như sau: Thứ nhất, bảo hiểm phi nhân thọ góp phần ổn định tài chính và đảm bảo cho các khoản đầu tư. Bởi lẽ khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với các đối tượng bảo hiểm nếu bị tổn thất các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường kịp thời để người tham gia nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống và sản xuất làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển bình thường. Trong nền kinh tế hiện đại, bảo hiểm đã trực tiếp tham gia đảm bảo cho các khoản đầu tư. Hầu hết các dự án đầu tư hiện nay đều đòi hỏi phải có bảo hiểm.
Nếu không có bảo hiểm thì các chủ đầu tư, đặc biệt là các ngân hàng liên quan sẽ không mạo hiểm đầu tư vốn cho dự án. Bởi vậy có thể xem hoạt động bảo hiểm như một loại kích thích đầu tư. Thứ hai, bảo hiểm phi nhân thọ là một kênh huy động vốn hữu hiệu để đầu tư cho phát triển kinh tế – xã hội, thể hiện ở chỗ các doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm trước khi rủi ro và sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm. Điều đó cho phép doanh nghiệp có một số tiền rất lớn đòi hỏi họ phải quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả để đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm.
Ngoài ra thời điểm xảy ra rủi ro và thời điểm thu phí bảo hiểm luôn có một khoảng cách. Bởi vậy các doanh nghiệp bảo hiểm phải thiết lập các quỹ dự phòng và phải đem đầu tư để thu lãi. Theo số liệu năm 2005 quỹ dự phòng của các doanh nghiệp bảo hiểm tại các nước phát triển là rất lớn: Như tại Pháp là khoảng 630 tỷ EUR, Anh là khoảng 1.119 tỷ bảng Anh và tại Mỹ là vào khoảng 2.