Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VE NGUYÊN TÁC TỰ DO HỢP DONG TRONG PHÁP LUẬT HỢP ĐÒNG LAO ĐỘNG 1. Khái quát chung về nguyên tắc tự do hợp đồng 1. Khái niệm nguyên tắc tự do hợp đồng Về phương diện ngôn ngữ học Việt Nam, Từ điển tiếng Việt có định nghĩa nguyên tắc là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [37]. Ở phương diện khoa học pháp lý, nguyên tac được hiểu là hệ thống những quan điểm, tư tưởng tồn tại và chỉ đạo xuyên suốt trong hệ thống pháp luật thé hiện tập trung những yêu cầu và đòi hỏi của Nhà nước trong việc điều chỉnh pháp luật đối với nhóm quan hệ xã hội nào đó, trong một hoặc toàn bộ giai đoạn nhất định.
Việc thực hiện các nguyên tắc mang tính chất bắt buộc chung, có những cách thức, sự ràng buộc phải tuân theo đối với tất cả mọi người, mọi cơ quan nhà nước và các tô chức xã hội có liên quan. Theo nhà triết học John Locke (1632-1704) “Tw do là khả năng con người có thé làm bat cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bat kỳ cản trở nào" [31]. Có thé hiểu một cách cơ ban rằng "tự do” là khả năng của các cá nhân được đưa ra những lựa chọn riêng của họ và làm những gì họ muốn mà không bị hạn chế. Hợp đồng là một loại giao ước có đặc điểm chung là sự thống nhất ý chí.
Vậy ý chí có vai trò cực kỳ quan trọng đối với hợp đồng bởi nó được xem là yếu t6 cơ bản, không thé thiếu dé hình thành nên một hợp dong, từ đó làm phat sinh các nghĩa vụ pháp lý [12, tr. Không thé nghi ngờ rằng, thương mại không thể phát triển nếu các thỏa thuận được lập ra một cách tự do mà không được hình thành một cách bình thường [12, tr. Vi vậy, dù ở hệ thống pháp luật nào thì người ta cũng đều thừa nhận nén tảng của luật hợp đồng là tự do ý chí. Tự do hợp đồng là một khái niệm được hình thành từ học thuyết tự do ý chí.
Học thuyết tự do ý chí xuất hiện từ thế kỷ XVIII thuộc hệ thống quan điểm trào lưu Triết học Ánh sáng, cho rằng ý chí của một người là tối thượng và tự chủ, chỉ ra các hành vi xuất phát từ ý chí tự chủ của một người mới có hiệu lực ràng buộc đối với người đó [34]. Tự do ý chí là nền tảng để hình thành hợp đồng. Dưới góc độ triết học, tự do ý chí thể hiện sự tự do của các nhâ, không ai có thê bị ép buộc làm việc gì trái với ý muốn của mình. Về mặt đạo đức, hợp đồng được xem là sản pham của ý chí được hình thành từ lợi ich của các bên tham gia.
Dưới góc độ kinh tẾ, tự do ý chí thừa nhận lợi ích cá nhân là động lực thúc đây các hoạt động kinh tế [13, tr. Tại Pháp, học thuyết tự do phát triển mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XVIII đã tác động trực tiếp tới việc xây dựng BLDS của Pháp năm 1804 và BLDS của Đức năm 1900. Học thuyết này chỉ ra cá nhân chỉ có thé bị ràng buộc vào các cam kết bởi chính ý chí của mình, tự do thương thuyết mang lại sự công bằng và kinh tế phát triển thông qua tự do cạnh tranh. Nguyên tắc tự do hợp đồng cũng được đề cao trong BLDS của Philipine năm 1949, tại Điều 1318 BLDS Philipine ghi nhận “Hop đồng là sự thống nhất ý chí giữa hai bên theo đó, moi bên tự ràng buộc mình trên cơ sở tôn trọng bên kia dé đưa cái øì đó hoặc trả cho một dịch vụ nào đó” [84, D1318].
Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại Châu Âu (PECL) năm 1998 cũng có quy định cụ thê về sự tự do ý chí của các bên tham gia hợp đồng, theo đó tại Điều 1.02 PECL “Các bên được tự do giao kết hợp đông và xác định nội dung hop dong, tuân theo các yêu câu về thiện chí và công bằng và các quy tắc bắt buộc được thiết lập bởi các nguyên tắc nay” [82, D1. Còn tại một số quốc gia thuộc hệ thong phap luat Common Law, tu do hop đồng được ghi nhận là hoc thuyết trung tâm của pháp luật hop đồng cô điển và phát triển mạnh mẽ vào cuối thé ky XIX. Trong quá trình xây dựng hệ thống hóa và khái quát quá các vấn đề liên quan đến hợp đồng, các học giả đã cho rằng nghĩa vụ hợp đồng phát sinh từ ý chí của cá nhân trong mối quan hệ hợp đồng cụ thể mà không phát sinh từ các chế định pháp lý đã được xây dựng [22]. Học giả người Mỹ Melvin Aron Eisenberg đã chỉ ra rằng, nhận thức (sự hiểu biết) của các bên đóng vai trò trung tâm trong việc phát triển học thuyết hợp đồng, việc hình thành hợp đồng ở thời điểm nào (hiện tại hay tương lai) đều phải dựa trên nhận thức của con người.
Nhận thức đó của con người được thé hiện thông qua sự bày tỏ ý chí của các chủ thể. Các chủ thé trong quan hệ hợp dong, trên cơ sở tự do ý chí, bày tỏ mong muốn, nhu cầu của minh đề thiết lập hợp đồng nhưng lại thiếu sự nhận thức (sự hiểu biết) của minh gây ảnh hưởng đến hợp đồng do sự sai lệch về hành vi trên thực tế. Ở góc độ này, việc giới hạn nguyên tắc tự do hợp đồng vẫn được đặt ra néu điều này gây bắt lợi, thiệt hai cho các bên tham gia hợp đồng [80]. Ở Việt Nam, tự do hợp đồng cũng được thừa nhận là một trong các nguyên tắc cơ bản của hợp đồng.
Hợp đồng là một loại giao ước dựa trên cơ SỞ Sự thống nhất ý chí của các chủ thể. Một số học giả đưa ra khái niệm tự do hợp đồng như sau: “Ti do hợp đồng là một tư tưởng mà theo đó các cá nhân được quyền tự do thỏa thuận giữa họ với nhau về các điều kiện của hợp đồng, không có sự can thiệp của chính quyên” [12] hay một quan điểm khác cho rằng “Tự do hợp đồng là quyên của các chủ thể được thể hiện ở các khía cạnh như tự do bình đẳng, tự nguyện giao kết hợp đồng; tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng; tự do thỏa thuận nội dung giao kết; tự do thỏa thuận hay thay đổi nội dung hợp đồng trong quá trình thực hiện; tw do thỏa thuận các điều kiện nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng; quyên tự do thỏa thuận cơ quan tài phán và giải quyét tranh chấp phát sinh từ hợp đồng” [22, tr. Nội dung của nguyên tắc tự do hợp đồng theo quan điểm nảy được áp dụng và thê hiện ở hầu hết các loại hợp đồng dân sự, thương mai, lao động. 10 Trước khi BLDS 1995 ra đời, Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 quy định “hợp đồng dân sự được giao kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đăng nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hoi” [I9, D4}.
Đến BLDS 2015 định ra nguyên tắc “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyên, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cắm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” [45, D3]. Có thé thay pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận tự do hợp đồng là một nguyên tắc quan trọng và ngày càng phát triển theo xu hướng mở rộng phạm vi tự do của các bên tham gia hop đồng, thu hẹp giới hạn của tự do hợp đồng. Như vậy, nguyên tắc tự do hợp đồng được hau hết các quốc gia và hệ thống pháp luật ghi nhận với bản chất là quan điểm, tư tưởng chỉ dao của Nhà nước thể hiện trong các quy định pháp luật về hop dong mà theo đó các chủ thể tham gia quan hệ hợp dong được thé hiện ý chí, thỏa thuận, giao kết hop đồng theo mong muốn của chính minh mà không bị ràng buộc bởi bất kỳ ai.
O mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, nội dung và phạm vi áp dụng của nguyên tắc tự do hợp đồng sẽ được thé hiện khác nhau tùy thuộc vào điều kiện, tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa của từng quốc gia, vùng lãnh thổ đó, nhưng đều hướng đến mục tiêu chung là bảo vệ tối đa quyền tự do của các chủ thé trong xã hội. Nội dung của nguyên tắc tự do hợp đồng Nguyên tắc tự do hợp đồng thê hiện qua nhiều phương diện khác nhau, thông qua những nội dung cơ bản được đúc rút từ các công trình nghiên cứu pháp luật hợp đồng, cụ thé như sau: Thứ nhất, tự do giao kết hoặc không giao kết hợp đồng Trong giao kết hợp đồng, tự do ý chí là nguyên tắc cơ bản và quan trọng. Quan hệ hợp đồng dù được thiết lập trong bất kỳ lĩnh vực nào như dân 11 sự, thương mại hay lao động thì nguyên tắc chung là tất cả các chủ thê đều có phải được tự do về mặt ý chí. Tại Campchia, BLDS quy định người trình bày ý chí có thé hy bỏ hợp đồng với lý do là vi phạm ý chí tự nguyện như bị lừa dối, de dọa, nham lẫn, hay lạm dụng tình hình dé thu lợi quá mức [4, D345].
Việc quyết định sẽ giao kết hay không giao kết hợp đồng do các chủ thé quyết định, không phân biệt thành phần kinh tế hay hình thức sở hữu. Nói cách khác, không chủ thể nào có quyền áp đặt ý chí, cưỡng ép để bắt buộc hay ngăn cản chủ thé khác giao kết hợp đồng. Trên thực tế, tự do ý chí khi giao kết hợp đồng xuất phát từ chính bản chất của hợp đồng là “sự thoa thuận và thống nhất về mặt ý chí giữa các chủ thé”, với điều kiện ý chí được thé hiện trong các hình thức giao kết, thỏa thuận biéu hiện được “ý chi thực” của họ. Tại Việt Nam, tự do ý chí của các chủ thê trong giao kết hợp đồng được thê hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật một cách tương đối nhất quán, cụ thể như quy định tại các Điều 11 Luật Thương mại 2005, Điều 385 BLDS 2015, Điều 386 BLDS 2015.
Thứ hai, tự do lựa chọn đối tác giao kết hop đồng Không chỉ ở Việt Nam mà pháp luật các nước đều quy định các chủ thê hợp đồng có quyền tự do lựa chọn đối tác để giao kết.