Chương 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE BẢO HIEM THAT NGHIỆP VA PHAP LUAT BAO HIEM THAT NGHIEP 1. Khai niém bao hiém that nghiép 1. Dinh nghia bao hiém that nghiép Mỗi người muốn sống, tổn tại thi phải lao động hay nói cách khác là phải có việc làm và lao động đã trở thành nhu cau cơ bản, chính đáng của con người. Tuy nhiên, không phải lúc nào nhu cầu làm việc của mỗi người đều được đáp ứng.
Có những người dễ dàng tìm kiếm được việc làm và làm việc gan bó, ôn định tại một số nơi trong suốt thời gian tham gia quan hệ lao động trong cuộc đời mình. Tuy nhiên cũng có những người có khả năng lao động và mong muốn được làm việc nhưng lại khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, thậm chí họ không thể tìm được việc làm cho mình. Khi tổng cung về lao động của những người lao động (NLĐ) muốn làm việc với mức tiền lương danh nghĩa tại một thời điểm lớn hơn khối lượng việc làm hiện có thì xảy ra tình trạng thất nghiệp'. Tổ chức Lao động Quốc tế đưa ra định nghĩa thất nghiệp tại Công ước số 102 năm 1952: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tudi lao động, muốn làm việc nhưng không thé tìm được việc làm với mức lương phổ biến trong thị trường lao động.
Theo Tổ chức lao động quốc tế, người thất nghiệp là NLD không có việc làm, không làm việc dù chỉ là một giờ trong tuần lễ điều tra, đang di tìm việc làm và có điều kiện là họ đi làm ngay. Ở mỗi quốc gia lại có quan điểm khác nhau về người thất nghiệp. Ở Cộng hòa liên bang Đức, người thất nghiệp được quy định trong Luật BHXH là NLD tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện những công việc ngắn hạn. Ở Thái Lan, người thất nghiệp là NLĐ có năng lực làm việc, muốn làm việc nhưng không có việc làm.
Nhu vậy, ở Thái Lan, NLD thực hiện những công việc ngăn hạn 1. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2000), Giáo trình Bảo hiểm, Nxb Thống kê, Hà Nội. không bị coi là người thất nghiệp. Còn ở Nhật Bản, người thất nghiệp là người không có việc làm trong tuần lễ điều tra, có khả năng làm việc, đang tích cực tìm việc làm hoặc chờ kết quả xIn việc làm”.
Tựu chung lại, có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau nhưng có thé thấy người thất nghiệp có day đủ các đặc điểm: i) là NLD, có khả năng lao động; ii) NLD đó đang không có việc làm; 111) NLD đó đang đi tìm việc làm. Người thất nghiệp trước hết phải là NLD, tức là người trong độ tudi lao động theo quy định của pháp luật, có khả năng lao động và đang không có việc làm, thực sự mong muốn có việc làm, sẵn sàng làm việc. Sự sẵn sàng làm việc thể hiện ở việc NLD di tìm việc làm, họ tìm kiếm các công việc phù hợp với khả năng lao động và nhu cầu làm việc của mình. Những người không còn trong độ tuôi lao động, người có khả năng lao động nhưng không muốn lao động, không đi tìm việc làm thì không được coi là người thất nghiệp.
Những người đang có việc làm nhưng tạm thời không đi làm vi ly do nào đó như nghỉ phép, nghỉ 6m, nghỉ tạm thời vì tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người trong độ tuôi lao động nhưng là học sinh, sinh viên chưa tốt nghiệp, những người ở nhà làm công việc nội trợ. thì không được coi là người thất nghiệp. Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội xuất hiện do nhiều nguyên nhân như khi các doanh nghiệp bước vào giai đoạn làm ăn kém hiệu quả, phải thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc trình độ khoa học kỹ thuật phát triển dẫn đến công nghệ sản xuất được đổi mới dẫn đến dư thừa lao động, dân số tăng nhanh bổ sung lượng lớn người trong độ tuổi lao động cho thị trường vượt quá nhu cầu thị trường về lao động. Thất nghiệp tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia, tình trạng NLD thất nghiệp làm gia tăng áp lực giải quyết việc làm ở các quốc gia, vốn là một vấn dé lớn Chính phủ các nước đều phải quan tâm giải quyết.
Đối với nền kinh tế, thất nghiệp là sự lãng phí nguồn lực xã hội vì sản xuất thực tế chưa phát huy 2. "Kinh nghiệm trợ cấp thất nghiệp ở các nước Châu A", http://www.vn/kinh-nghiem-tro-cap- that-nghiep-o-cac-nuoc-chau-a, truy cập ngày 20/3/2018. được hết các tiềm năng của nó, trong đó tiềm năng quan trọng là sức lao động cua con n8ưỜI. Đối với NLD, khi rơi vào tình trạng thất nghiệp, họ bị mat thu nhập dẫn đến đời sống khó khăn, khoảng thời gian không có việc làm khiến tỉnh thần đi xuống, các mỗi quan hệ xã hội thay đôi và có thé sa vào các tệ nạn xã hội.
Ngoài ra, đời sống của những người thân sống phụ thuộc vào NLD, cả những người phụ thuộc về kinh tế và những người có mối quan hệ tình cảm gắn bó cũng bị ảnh hưởng do NLĐ bị thất nghiệp. Một trong các biện pháp, chính sách để khắc phục những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của thất nghiệp mà các quốc gia thực hiện là BHTN. BHTN trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống của mình và gia đình trong một chừng mực nhất định, tạo điều kiện dé họ quay trở lại, tham gia vào thị trường lao động. Với ý nghĩa an sinh xã hội to lớn của mình, khi mới được triển khai thực hiện, BHTN là một bộ phận của BHXH nhưng sau đó nó được tách ra khỏi BHXH, được coi là một trong những chính sách có vai trò, ý nghĩa to lớn khắc phục tình trạng thất nghiệp.
BHTN nhằm trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp dé họ 6n định cuộc sống của mình và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện để họ tham gia vào thị trường lao động, có những cơ hội mới về việc làm. Có thê hiểu: Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập cho người thất nghiệp và hỗ trợ người thất nghiệp tìm việc làm trên cơ sở sự đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp Ngoài những đặc điểm chung của bảo hiểm như bản chất đó là sự phân phối lại tổng sản phẩm xã hội trong nước một cách không đều, hoạt động trên nguyên tắc số đông bù số ít, vừa mang tính bôi hoàn lại vừa không bồi hoàn”, BHTN còn có những đặc điểm riêng như sau: Một là, BHTN không nhằm mục dich lợi nhuận. BHTN là một nội dung thuộc chính sách an sinh xã hội, nó không phải là một loại hình bảo 3.
Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2000), Giáo trình Bảo hiểm, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr. hiểm kinh doanh thương mại, vì thế BHTN không nhằm mục đích lợi nhuận. Theo thông lệ quốc tế, chính sách BHTN nhằm mục tiêu cung cấp thu nhập thay thế, giúp bù đắp một phan thu nhập, ồn định đời sống cho những người thất nghiệp thông qua chỉ trả trợ cấp thất nghiệp và triển khai các giải pháp nhằm nhanh chóng đưa người thất nghiệp quay trở lại thị trường lao động thông qua dao tạo chuyên đổi nghé, tư van giới thiệu việc làm hoặc hỗ trợ duy trì việc làm, tránh sa thải lao động. BHTN cũng là công cụ quản tri thị trường lao động, giúp thị trường lao động vận hành hiệu quả hơn.
BHTN cũng giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và doanh nghiệp. Khi NLD rơi vào tình trạng thất nghiệp, nhờ có các khoản trợ cấp thất nghiệp được chỉ trả từ quỹ BHTN đã góp phan bảo đảm an sinh cho NLD và gia đình họ. Do đó Nhà nước và doanh nghiệp giảm được chi phí hỗ trợ cho NLD ổn định cuộc sống. Hai là, BHTN có đối tượng áp dụng là người thất nghiệp, trợ cấp mang tính ngắn hạn.
Người được hưởng trợ cấp thất nghiệp là NLD bị thất nghiệp, tức là họ đã kết thúc một quan hệ lao động va đang chờ dé tiếp tục tham gia vào một quan hệ lao động mới. BHTN nằm ngoài quan hệ lao động nhưng đó chỉ là tạm thời, ngắn hạn và có chừng mực nhất định. Nó khác hoàn toàn so với bảo hiểm hưu trí là chế độ bảo hiểm dài hạn, áp dụng cho người nghỉ hưu, tức là người đã kết thúc quá trình làm việc, không tham gia quan hệ lao động nữa. Là một chính sách an sinh xã hội quan trọng nhưng BHTN luôn là một chế độ ngắn hạn, hỗ trợ cho NLD bị thất nghiệp trong thời gian tạm thời chưa tìm được việc làm khác.
Do tính chất tạm thời này, NLĐ chỉ được hưởng trợ cấp trong một khoảng thời gian giới han sau khi bi mat việc làm hoặc cham dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc. Ba là, BHTN không chỉ hỗ trợ vật chat dé NLD 6n định cuộc sống mà còn hỗ trợ dé NLD tìm kiếm được việc làm. Bên cạnh việc trợ cấp bằng tiền, BHTN còn bao gom cac bién phap tao điều kiện, tìm kiếm cơ hội dé NLD tìm được việc làm phù hợp, tiếp tục tham gia quan hệ lao động. Các biện pháp 10 này vừa giúp NLD có kha năng nhanh chóng trở lại tham gia quan hệ lao động vừa giúp giảm chi phí quỹ bảo hiểmy tế chi trả trợ cấp BHTN.
Các biện pháp đào tạo nghề cho NLĐ thất nghiệp cũng có ý nghĩa giúp phòng ngừa thất nghiệp cho NLD khi họ đã tham gia quan hệ lao động. Nhờ được dao tạo nghề nghiệp theo chính sách của BHTN, NLĐ có khả năng duy trì việc làm tốt hơn, thậm chí có thể tìm kiếm được việc làm với thu nhập cao hơn. Như vậy, BHTN vừa bu dap thu nhập, vừa tao động lực tích cực cho người thất nghiệp chủ động tìm cơ hội trở lại làm việc. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp * Đối với người lao động Nhờ có khoản trợ cấp thất nghiệp bù đắp vào phần thu nhập bị mất của NLD, NLD và gia đình họ tạm thời ồn định cuộc song.
Ngoài ra, BHTN không chỉ bù đắp thu nhập dé duy trì cuộc sống hang ngày cho NLD ma BHTN còn giúp họ có cơ hội quay trở lại thị trường lao động, tham gia vào một quan hệ lao động mới thông qua các hoạt động hỗ trợ như tìm kiếm việc làm, đào tạo nghề, nâng cao tay nghé.