CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT QUYỀN CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 1. Quyền chấm dứt hợp đồng lao động và pháp luật về quyền chấm dứt hợp đồng lao động 1. Khái niệm về quyền chấm dứt hợp đồng lao động Quyền được hiểu là những điều được làm, được hưởng, được đòi hỏi. Theo Từ điển mở Wiktionary “Quyền” là cái mà luật pháp, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành.
và, khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại. Trong quan hệ pháp luật quyền của chủ thể được hiểu là quyền chủ thể trong quan hệ pháp luật là khả năng xử sự của những người tham gia quan hệ được quy phạm pháp luật quy định trước và được bảo vệ bởi sự cưỡng chế của Nhà nước. HĐLĐ là hình thức biểu hiện của quan hệ lao động. Quan hệ lao động giữa NLĐ hoặc tập thể NLĐ với NSDLĐ được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau (Khoản 1, Điều 7 Luật Lao động 2012) [22].
Quan hệ lao động được thiết lập bởi ý chí các chủ thể với thời gian cụ thể: HĐLĐ theo mùa vụ hoặc một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng; HĐLĐ xác định thời hạn trong thời gian đủ từ 12 tháng đến 36 tháng; HĐLĐ không xác định thời hạn. Quan hệ lao động thường có tính chất lâu dài nhưng không phải là quan hệ “mãi mãi”; quan hệ lao động có thể bị chấm dứt bất cứ lúc nào tùy thuộc vào ý chí của một trong hai bên chủ thể ký kết HĐLĐ hoặc bởi sự thương lượng, thỏa thuận của cả hai bên ký kết HĐLĐ. 6 Quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường thì sự chấm dứt HĐLĐ là điều không tránh khỏi, đây là một sự kiện quan trọng vì nó thường để lại những hậu quả rất lớn về mặt kinh tế xã hội. Chấm dứt quan hệ hợp đồng do nhiều nguyên nhân khác nhau và nó có thể gây ra tranh chấp lao động làm tổn hại đến những quan hệ khác.
Việc chấm dứt quan hệ lao động sẽ dẫn đến một số hệ quả như NLĐ mất đi công việc từ đó ảnh hưởng đến thu nhập, cuộc sống và gia đình của họ; việc chấm dứt HĐLĐ với nhiều NLĐ sẽ gây ảnh hưởng đến năng suất, tiến độ, mất cân bằng nhân sự của NSDLĐ. Nếu NLĐ được NSDLĐ đào tạo có tay nghề tốt, chuyên môn và kinh nghiệm cao thì việc chấm dứt HĐLĐ với những đối tượng này sẽ tạo ra nhiều khó khăn cho NSDLĐ như xáo trộn về mặt nhân sự, không đảm bảo tiến độ công việc, làm giảm năng suất từ đó gây thiệt hại cho NSDLĐ. Vì vậy, để bảo vệ quan hệ lao động và NLĐ, pháp luật xác định rõ các trường hợp chấm dứt HĐLĐ để bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động. Để hạn chế được tình trạng chấm dứt HĐLĐ gây ra những hậu quả pháp lý không mong muốn, pháp luật hiện hành đã quy định cụ thể, chặt chẽ về vấn đề chấm dứt HĐLĐ.
Tại Chương III, Luật Lao động 2012 đã có các điều khoản quy định về chấm dứt HĐLĐ. Cụ thể như: Các trường hợp chấm dứt HĐLĐ (Điều 36); Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ (Điều 37); Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ (Điều 38), Trường hợp NSDLĐ không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ (Điều 39), Hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ (Điều 40); Đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật (Điều 41);…. [22] Bộ Luật Lao động năm 2012 đã quy định nhiều điều khoản về vấn đề chấm dứt HĐLĐ, tuy nhiên Luật Lao động 2012 và các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành vẫn chưa đưa ra định nghĩa “chấm dứt HĐLĐ” và “quyền chấm dứt HĐLĐ”. 7 “Chấm dứt HĐLĐ là sự kiện pháp lý rất quan trọng bởi hậu quả pháp lý của nó là sự kết thúc quan hệ lao động và một trong số trường hợp nó ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, cuộc sống của NLĐ thậm chí gia đình họ, gây xáo trộn lao động trong đơn vị và có thể gây thiệt hại cho NSDLĐ”.
Quyền chấm dứt HĐLĐ là quyền hiến định; là quyền của NLĐ và NSDLĐ trong quan hệ lao động. Đây là quyền mà pháp luật cho phép NLĐ, NSDLĐ được chấm dứt HĐLĐ, chấm dứt thực hiện các quyền và nghĩa vụ với bên còn lại của HĐLĐ đã giao kết. Quyền chấm dứt HĐLĐ là công cụ hữu hiệu mà pháp luật dành cho NLĐ và NSDLĐ để họ tự bảo vệ lợi ích của mình khi bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại. Đặc điểm của quyền chấm dứt hợp đồng lao động Để làm rõ đặc điểm của quyền chấm dứt HĐLĐ, trước hết cần phải làm rõ đặc điểm của chấm dứt HĐLĐ.
Chấm dứt HĐLĐ có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, chấm dứt HĐLĐ là chấm dứt mối quan hệ ràng buộc về mặt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể ký kết HĐLĐ. HĐLĐ được dùng để chỉ một hình thức pháp lý được ký kết giữa NLĐ và NSDLĐ. HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa NLĐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động (Điều 15 Luật Lao động 2012) [22]. HĐLĐ được giao kết bằng văn bản.
Khi chấm dứt HĐLĐ thì quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết HĐLĐ sẽ chấm dứt. Thứ hai, chấm dứt HĐLĐ có thể đúng luật hoặc trái luật. 8 Chấm dứt HĐLĐ đúng luật là khi các bên giao kết HĐLĐ thực hiện việc chấm dứt HĐLĐ theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật. Việc chấm dứt HĐLĐ có thể do HĐLĐ hết hạn, đã hoàn thành công việc theo HĐLĐ; hai bên giao kết HĐLĐ thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ; NLĐ đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu; ….
Hoặc trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ, NSDLĐ (Điều 37, Điều 38 Luật Lao động 2012). Khi thực hiện việc chấm dứt HĐLĐ đúng luật thì các bên giao kết HĐLĐ phải tuân thủ trình tự thực hiện theo quy định pháp luật (ví dụ: thời hạn báo trước,…). Pháp luật đã quy định các trường hợp chấm dứt HĐLĐ khá chi tiết, chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các bên giao kết HĐLĐ. Thứ ba, chấm dứt HĐLĐ gây ra những hậu quả pháp lý không mong muốn.
Chấm dứt HĐLĐ là một hiện tượng khách quan. Chấm dứt HĐLĐ mang cả yếu tố tích cực và tiêu cực. Dưới phương diện tích cực, chấm dứt HĐLĐ là cơ sở pháp lý, căn cứ để các chủ thể ký kết HĐLĐ xác định quyền và nghĩa vụ của mình. Bên cạnh đó, chấm dứt HĐLĐ thể hiện quyền tự do lựa chọn công việc, nơi làm việc, đối tượng ký kết HĐLĐ của NLĐ.
Về phía NSDLĐ, chấm dứt HĐLĐ là biện pháp đảm bảo quyền tự do tuyển chọn nhân sự; việc tự do sắp xếp, bố trí, tăng, giảm nhân sự để phù hợp công việc sản xuất kinh doanh của NSDLĐ. Dưới phương diện tiêu cực, chấm dứt HĐLĐ làm ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của NLĐ, tinh thần của NLĐ và ảnh hưởng không nhỏ đến gia đình họ. Đối với NSDLĐ, chấm dứt HĐLĐ gây ra mất cân bằng nhân sự, ảnh hưởng công việc sản xuất kinh doanh chung. 9 Khi quyết định tham gia quan hệ lao động thì NLĐ và NSDLĐ đều có những mục đích riêng.
Đối với NLĐ, mục đích là việc kiếm tiền nuôi bản thân, phụ giúp gia đình hoặc công việc là ước mơ của NLĐ,… Đối với NSDLĐ việc giao kết HĐLĐ với NLĐ nhằm mục đích thu được lợi nhuận từ những hoạt động sản xuất kinh doanh – NLĐ tham gia sản xuất (bằng trí óc, bằng hoạt động chân tay). Khi mục đích của một trong hai bên không còn được bên còn lại đáp ứng thì việc chấm dứt HĐLĐ là chuyện tất yếu xảy ra. NLĐ sẽ tìm kiếm một công việc mới phù hợp với sức khỏe hơn, phù hợp với mong muốn, phù hợp với điều kiện đi lại sinh hoạt,…. Bên cạnh đó, tùy thuộc vào mục đích kinh doanh mà NSDLĐ có thể cần thêm hoặc bớt số lượng nhân sự từ đó việc chấm dứt HĐLĐ hoặc giao kết thêm HĐLĐ được diễn ra.
Đối với NLĐ: Khi chấm dứt HĐLĐ, NLĐ có thể sẽ phải chịu một số những hệ quả không mong muốn như mất đi nguồn thu nhập ổn định để trang trải cuộc sống của cá nhân NLĐ và gia đình. NLĐ đang có thu nhập đều đặn hàng tháng khi chấm dứt hợp đồng nếu NLĐ không có công việc mới ngay thì rất khó khăn cho cuộc sống không nguồn thu nhập của họ. Để tìm được một công việc phù hợp với nguyện vọng của bản thân, một công việc mà bản thân đáp ứng được những tiêu chí của công việc là rất khó khăn. Khi NLĐ rơi vào tình trạng thất nghiệp sẽ là gánh nặng cho gia đình, cho xã hội và đôi khi sẽ tìm đến những cơ hội đỏ đen để tìm kiếm may mắn hay tệ hơn là sa đà vào tệ nạn xã hội.
NLĐ mất việc làm lâm vào trạng thái túng quẫn, bất lực rất dễ nổi nóng với vợ con, cha mẹ cũng là một trong những nguyên nhân gây ra bạo lực gia đình. Đối với NSDLĐ: Khi chấm dứt HĐLĐ NSDLĐ cũng sẽ phải đối mặt với những xáo trộn nhất định; sẽ gặp những khó khăn trong công việc sản xuất kinh doanh của mình. NLĐ khi chấm dứt HĐLĐ ảnh hưởng ít nhiều đến dây chuyền sản xuất của NSDLĐ. Nếu NLĐ có tay nghề cao, được đào tạo 10 chuyên sâu khi chấm dứt HĐLĐ sẽ gây nên lỗ hổng nhân sự, là bài toán khó cho NSDLĐ.
Khoản 1 Điều 35 Hiến pháp 2013 đã ghi nhận như sau: “1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc”. [19] NLĐ có quyền lựa chọn việc làm theo Hiến pháp quy định nên khi chấm dứt HĐLĐ với NSDLĐ do hiểu biết pháp luật còn hạn chế, nhiều NLĐ đã thực hiện việc chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. Từ việc chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật NLĐ sẽ mất đi một số lợi ích của mình như phải bồi hoàn chi phí đào tạo cho NSDLĐ,… Vì vậy, việc chấm dứt HĐLĐ là việc rất nhạy cảm có thể dẫn đến tranh chấp và vô tình NSDLĐ cũng bị vướng vào sự vụ tranh chấp gây mất uy tín doanh nghiệp, tổn thất về tiền bạc cũng như ảnh hưởng đến công việc sản xuất kinh doanh.
Điều 33 Hiến pháp 2013 đã ghi nhận như sau: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.