CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM 1. Quy định của pháp luật hình sự liên quan đến định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm Khoản 1 Điều 255 BLHS năm 2015 quy định: “Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị…” cho thấy, tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức, mặt khách quan chỉ quy định duy nhất dấu hiệu hành vi khách quan là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015 quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Với tư cách là một trong các hình thức của tội phạm, hành vi phạm tội trong trường hợp đồng phạm cũng phải thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương tự như trong trường hợp phạm tội đơn lẻ.
Tuy nhiên, đồng phạm là một hình thức phạm tội đặc biệt nên cũng có các dấu hiệu riêng biệt nhất định so với phạm tội đơn lẻ. Do đó, khi định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm ngoài yếu tố khách thể, đối tượng tác động như trường hợp phạm tội đơn lẻ thì cần xem xét, kiểm tra các dấu hiệu riêng biệt mang tính đặc thù của trường hợp đồng phạm sau đây: Thứ nhất, dấu hiệu về số lượng người tham gia: Khi định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm đòi hỏi phải có ít nhất hai người trở lên cùng tham gia vào việc thực hiện tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Những người này phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện về chủ thể của tội phạm. Theo đó, tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có dấu hiệu chủ thể thường cho nên từ hai người trở lên này chỉ cần có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 và không rơi vào tình trạng không có năng lực TNHS theo quy định tại Điều 21 BLHS năm 2015.1 Thứ hai, dấu hiệu hành vi phạm tội: Các chủ thể của tội phạm trong trường hợp đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy phải có hành vi “cùng thực hiện một tội phạm”.
Điều này có nghĩa là các chủ thể của tội phạm phải có hoạt động chung, hành vi của mỗi người đồng phạm phải được thực hiện trong sự 1 Xem: Điều 12 BLHS năm 2015 “Tuổi chịu TNHS” và Điều 21 BLHS năm 2015 “Tình trạng không có năng lực TNHS”. 8 liên kết, hỗ trợ, bổ sung, tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi của người đồng phạm khác. Hành vi của mỗi người đồng phạm là một khâu cần thiết cho hoạt động phạm tội chung và luôn có ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau, làm cho hoạt động phạm tội chung hiệu quả hơn và nguy hiểm hơn. Trong quá trình thực hiện tội phạm, tùy từng trường hợp cụ thể mà người đồng phạm có thể thực hiện ít nhất một trong bốn loại hành vi phạm tội là trực tiếp thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được mô tả trong mặt khách quan của tội phạm, tổ chức việc thực hiện tội phạm, xúi giục người khác tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và giúp sức người khác tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Điều này cũng có nghĩa là, trong vụ án đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, có thể có nhiều loại người đồng phạm khác nhau, gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.2 Trong đó, người thực hành là bắt buộc, luôn luôn phải có. Thứ ba, dấu hiệu lỗi: Những người đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy phải có sự “cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Điều này có nghĩa là khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không những nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, mà còn biết được mình đang hoạt động chung với người khác, đồng thời, mỗi người đồng phạm cũng nhận thức được hành vi của những người đồng phạm khác cũng nguy hiểm cho xã hội. Đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, lỗi của những người đồng phạm phải là lỗi cố ý trực tiếp.
Liên quan đến vấn đề định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm, pháp luật hình sự Việt Nam có các quy định như sau: - Tiểu mục 6.1 mục 6 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và Bộ tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 hướng dẫn về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Điều 255 BLHS năm 2015 như sau:3 “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây: a) Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; 2 Khoản 3 Điều 17 BLHS năm 2015. 3 Xem: Tiểu mục 6.1 mục 6 phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP. 9 b) Chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác thì bị coi là đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; cung cấp trái phép chất ma túy cho người khác để họ sử dụng trái phép chất ma túy; chuẩn bị chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ, sản xuất…) nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; chuẩn bị địa điểm (thuê địa điểm, mượn địa điểm, sử dụng địa điểm không thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý để làm nơi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác); chuẩn bị dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ…) nhằm sử dụng để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; tìm người sử dụng chất ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của họ”.
- Mục 1 Phần I Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của TANDTC về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử hướng dẫn: “Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không đồng nhất với khái niệm “phạm tội có tổ chức”. Theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự thì “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”. Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Còn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ.
để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng có đồng phạm nhưng đồng phạm ở đây được hiểu là thực hiện theo sự chỉ huy, phân công điều hành (không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, không bắt buộc phải có sự phân công, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ trong các đồng phạm)”. Một số vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm Như trên đã phân tích, tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm phải có từ hai người trở lên cùng cố ý tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Nếu người phạm tội không nhằm mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà nhằm mục đích khác như chứa chấp, lôi kéo hay tàng trữ trái phép 10 chất ma túy thì sẽ bị xử lý hình sự về các tội phạm tương ứng như: tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy hay tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tuy nhiên, thực tiễn định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm vẫn còn có những vướng mắc dẫn đến giảm hiệu quả đấu tranh phòng chống loại tội phạm này. Các vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm được thể hiện thông qua nội dung các bản án sau: Thứ nhất, trường hợp một người biết người khác đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm do mình có trách nhiệm quản lý, không những không ngăn cản việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà còn có hành vi cung cấp bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy để cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy. Vụ án thứ nhất:4 Bản án hình sự sơ thẩm (HSST) số 111/2020/HS-ST ngày 17/7/2020 của Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Nội dung vụ án: Trần Như Q là chủ cơ sở và quản lý kinh doanh quán karaoke Nice.
Vào tối ngày 01/01/2020, Trần Hữu T cùng với một số người tổ chức ăn liên hoan xong, cả nhóm rủ nhau đi hát Karaoke, thì Trần Hữu T bảo mọi người đến quán Karaoke Nice và được bố trí phòng hát tại tầng 2 Karaoke Nice. Khi vào phòng thấy có bàn đánh nhạc DJ thì Trần Hữu T nảy sinh ý định mua ma túy về cho mọi người sử dụng nên Trần Hữu T gọi điện thoại mua 10 viên ma túy loại MDMA với giá 350.000 đồng/1 viên và 5.000 đồng ma túy loại Ketamine. Sau khi mua được ma túy, Trần Hữu T bảo Trần Như Q đổi nhạc mạnh, lấy cho 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa cứng, 01 ống hút để Trần Hữu T sử dụng ma túy trong phòng hát. Trần Như Q đã lấy đưa cho Trần Hữu T.