CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI VẬN CHUYỂN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1. Cơ sở pháp lý của việc định tội danh đối với hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy Trước khi BLHS năm 2015 được ban hành thì Tội vận chuyển trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy và chiếm đoạt chất ma túy được quy định trong cùng một điều luật1. Bốn tội danh này được quy định tại Điều 194 BLHS năm 1999 tương ứng với bốn hành vi khách quan có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau, trong đó hành vi mua bán trái phép chất ma tuý được xác định có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với các hành vi còn lại2. Do đó, việc quy định bốn tội danh này trong cùng một điều luật với các khung hình phạt như nhau dẫn đến sự thiếu phân hóa về trách nhiệm hình sự đối với các hành vi khách quan có tính nguy hiểm cho xã hội khác nhau.
Đồng thời, do điều luật quy định về tội ghép nên không thể mô tả đầy đủ dấu hiệu hành vi khách quan và cấu thành cơ bản đối với từng tội phạm, dẫn đến khó khăn cho CQTHTT việc xác định tội danh cũng như quyết định hình phạt một cách chính xác, công bằng và thống nhất. Để khắc phục bất cập nêu trên, ban soạn thảo BLHS năm 2015 đã tách Điều 194 BLHS năm 1999 quy định về Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thành 04 tội danh riêng biệt, trong đó có Tội vận chuyển trái phép chất ma túy được quy định cụ thể tại Điều 250 BLHS năm 2015. Căn cứ theo quy định tại Điều 250 BLHS năm 2015 thì hành vi khách quan của Tội vận chuyển trái phép chất ma túy được mô tả là hành vi “vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy”3. Như vậy, Điều luật này đã thể hiện sự kế thừa các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS năm 19994 vẫn chưa mô tả cụ thể về hành vi “vận chuyển” trái phép chất ma túy.
Bên cạnh đó, kể từ khi BLHS năm 2015 được ban hành và có 1 Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194 BLHS năm 1999). 2 Ban soạn thảo BLHS, Mục 8 Phần II Bản thuyết minh dự thảo BLHS (sửa đổi), ngày 23 tháng 4 năm 2015. 3 Khoản 1 Điều 250 BLHS năm 2015. 4 Nguyễn Thị Phương Hoa, Phan Anh Tuấn (2017), Bình luận khoa học những điểm mới của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nxb Hồng Đức, tr.
8 hiệu lực áp dụng thì vẫn chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn về dấu hiệu pháp lý của Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250 BLHS)5. Vì vậy, để xác định hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, cần phải xem xét các văn bản pháp luật được ban hành từ trước khi BLHS năm 2015 được soạn thảo, cụ thể là Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 (TTLT 17/2007). Theo hướng dẫn tại TTLT 17/2007 thì hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy bao gồm các dạng hành vi sau: Thứ nhất, hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào (có thể bằng các phương tiện khác nhau như ô tô, tàu bay, tàu thủy…; trên các tuyến đường khác nhau như đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy, đường bưu điện…; có thể để trong người như cho vào túi áo, túi quần, nuốt vào trong bụng, để trong hành lý như vali, túi xách v.v…) mà không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác 6. Để xác định người phạm tội thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy trong trường hợp này đòi hỏi phải đáp ứng 03 điều kiện: Một là, có hành vi chuyển dịch chất ma túy từ địa điểm này sang địa điểm khác dưới bất kỳ hình thức nào.
Khoảng cách hay thời gian chuyển dịch chất ma túy không phải là dấu hiệu định tội. Hai là, việc chuyển dịch chất ma túy là bất hợp pháp, tức không thuộc các trường hợp được pháp luật cho phép chuyển dịch. Hiện nay, chỉ có một số cơ quan, đơn vị đặc biệt thuộc Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng như Cục Quân y Bộ Quốc phòng, Cục Y tế Bộ Công an, Viện Khoa học hình sự Bộ Công an, Cục Phòng, chống tội phạm về ma túy Bộ Tư lệnh biên phòng; Cục 5 Năm 2015, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 08/2015/ TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP để sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTCTANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 (sau đây viết gọn là Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT).2 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999. 9 Cảnh sát biển Bộ Quốc phòng, Cục Điều tra chống buôn lậu Tổng cục Hải quan, Các đơn vị huấn luyện chó nghiệp vụ hoặc động vật khác để phát hiện ma túy thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng… mới được phép mua bán, trao đổi, vận chuyển và sử dụng chất ma túy vì mục đích nghiên cứu khoa học, quốc phòng, an ninh.
Do đó, việc chuyển dịch chất ma túy không thuộc các trường hợp này đều bị coi là bất hợp pháp. Ba là, hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hoặc sản xuất trái phép chất ma túy; vận chuyển trái phép chất ma túy cho người khác, mà biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy của người đó. Vì vậy, theo hướng dẫn trên, có thể phát sinh các trường hợp: - Hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy được thực hiện nhằm để bán trái phép chất ma túy đó cho người khác thì sẽ bị coi là thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS năm 2015); - Hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy được thực hiện nhằm để tàng trữ chất ma túy đó thì sẽ bị coi là thực hiện hành vi tàng trữ phép chất ma túy (Điều 249 BLHS năm 2015); - Hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy được thực hiện nhằm để làm ra chất ma túy khác thì sẽ bị coi là thực hiện hành vi sản xuất phép chất ma túy (Điều 248 BLHS năm 2015). - Hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy mà biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy của người đó thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm7.
Thứ hai, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích vận chuyển trái phép chất ma túy đó. Đây là hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…)8 nhằm mục đích chuyển dịch chất ma túy đó từ địa 7 Tiểu mục 3.2 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999.1 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999. 10 điểm này sang địa điểm khác. Như vậy, để xác định người phạm tội thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy trong trường hợp này cũng đòi hỏi phải đáp ứng 03 điều kiện: Một là, có hành vi cất giữ, cất giấu chất ma túy ở bất cứ nơi nào.
Thời gian cất giữ, cất giấu dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh; Hai là, việc cất giữ, cất giấu chất ma túy là bất hợp pháp, tức không thuộc những trường hợp được pháp luật cho phép; Ba là, hành vi cất giữ, cất giấu nhằm để chuyển dịch chất ma túy đó từ địa điểm này sang địa điểm khác. Do đó, khi áp dụng pháp luật hình sự để xử lý đối với trường hợp này, các CQTHTT cần phải thu thập tài liệu, chứng cứ, chứng minh về mục đích của người vận chuyển trái phép chất ma túy cho người khác. Nếu mục đích vận chuyển trái phép chất ma túy thuê cho một người khác để có lợi ích vật chất mà không biết, không quan tâm đến người thuê vận chuyển mục đích sử dụng số ma túy đó để làm gì thì người phạm tội phải bị xử lý về Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250 BLHS năm 2015). Trong trường hợp người vận chuyển trái phép chất ma túy mà biết rõ mục đích của người thuê mình vận chuyển số ma túy đó để bán cho người khác thì người vận chuyển trái phép chất ma túy đó phải bị xử lý về Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS năm 2015).
Thực tiễn định tội danh đối với hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy Kể từ khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành đến nay, việc áp dụng quy định pháp luật hình sự để xử lý tội phạm ma túy nói chung, tội phạm vận chuyển trái phép chất ma túy nói riêng luôn được các CQTHTT thực thi nghiêm túc, đúng quy định. Qua các Báo cáo tổng kết của ngành Tòa án các năm 2018, 2019 và 2020, việc định tội danh đối với tội phạm vận chuyển trái phép chất ma túy luôn được HĐXX xem xét và quyết định cẩn trọng dựa theo quy định pháp luật hình sự nên hầu hết số vụ án bị kháng cáo, kháng nghị chỉ liên quan đến vấn đề quyết định hình phạt9.