Chương 1 NH NG VẤN ĐỀ L LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI MA TÚY 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội ma túy và ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội ma túy 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội ma túy Dưới góc độ của Tội phạm học, khái niệm nhân thân người phạm tội được hình thành từ tập hợp hai khái niệm: “nhân thân” và “người phạm tội” [41, tr. Theo đó, nhân thân người phạm tội được hiểu là nhân thân người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm đoán và trừng phạt.
Nói cụ thể hơn nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm dấu hiệu riêng biệt mang tính cá nhân của con người như tên, tuổi, giới tính, các đặc điểm về xã hội học, đạo đức, tâm lý, tôn giáo, tín ngưỡng,. mà người phạm tội tham gia vào các mối quan hệ xã hội. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin thì nhân thân con người chính là một phạm trù xã hội lịch sử, nó là sản phẩm của một thời đại nhất định, được quy định bởi các điều kiện lịch sử cụ thể của hiện thực xã hội. Mỗi một thời đại khác nhau sản sinh ra những người không giống nhau, song dù thời đại nào thì bản chất của con người luôn luôn là tổng hòa những mối quan hệ xã hội [17, tr.
Mỗi con người tồn tại trong xã hội với đặc điểm riêng có của mình và có một cuộc sống khác nhau, nhưng không phải con người sinh ra đã có thể trở thành người phạm tội mà quá trình sinh sống với những đặc điểm nhân thân của con người hình thành và phát triển trong xã hội theo hướng tốt hoặc xấu. Chính quá trình hình thành này mà có người trở thành người phạm tội, có người không trở thành người phạm tội. “Những đặc điểm thuộc về nhân thân con người - sinh học, tâm lý, xã hội - nếu gặp những điều kiện, hoàn cảnh không thuận lợi của quá trình hình thành nhân cách sẽ trở thành những đặc điểm nhân thân xấu, những đặc điểm nhân thân xấu này khi gặp những tình huống bên ngoài thuận lợi sẽ dễ làm phát sinh hành vi phạm tội” [38, tr. 9 Nghiên cứu nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra những kiến nghị góp phần giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, cũng như phòng ngừa tội phạm và giáo dục, cải tạo người phạm tội.
Do vậy, vấn đề nhân thân người phạm tội là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học pháp lý như tội phạm học, luật hình sự, khoa học điều tra hình sự,… Trong khoa học pháp lý có một số quan điểm về nhân thân người phạm tội như sau: - Theo GS.TS Võ Khánh Vinh: “Nhân thân người phạm tội tức là người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm được hiểu là tổng thể các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó” [52, tr.TS Đỗ Ngọc Quang: “Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm, những dấu hiệu, mối quan hệ xã hội về một con người chứa đựng phẩm chất cá nhân tiêu cực trong nhân cách dẫn đến hành vi phạm tội” [20].TS Nguyễn Ngọc Hòa: “Nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa trong việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ” [15]. Nhìn chung các quan điểm trên đều có điểm chung khi khẳng định nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của con người khi tham gia vào các quan hệ xã hội. Đó là các đặc điểm dấu hiệu sinh học, nhân khẩu học và các đặc điểm về xã hội học và đạo đức. Nhân thân người phạm tội vừa thỏa mãn những dấu hiện cơ bản của nhân thân con người, vừa mang dấu hiệu đặc trưng riêng có ở người phạm tội.
Dấu hiệu đặc trưng trong nhân thân người phạm tội khác với nhân thân con người trước hết ở chỗ họ đã thực hiện hành vi phạm tội và là chủ thể của tội phạm theo quy định của BLHS. Nhân thân người phạm tội chứa đựng phẩm chất tiêu cực trong nhân cách. Những phẩm chất tiêu cực này được thể hiện trong hệ thống những đặc điểm, thế giới quan, thái độ, hành vi ứng xử xã hội, tình cảm, ý chí, sở trường năng khiếu cá nhân hoặc những sai lệch về chuẩn mực đạo đức dẫn đến việc họ thực hiện hành vi phạm tội. Những đặc điểm nhân 10 thân này không phải sinh ra đã có mà chúng được hình thành trong suốt quá trình sống dưới tác động của môi trường sống xung quanh.
Đồng thời, chúng được chọn lọc và tiếp nhận bởi chính yếu tố cá nhân của người phạm tội. Vì vậy, tiền đề của việc thực hiện tội phạm chính là sự kết hợp phẩm chất cá nhân tiêu cực với điều kiện hoàn cảnh khách quan bên ngoài. Bên cạnh điểm chung như phân tích ở trên thì các quan điểm này cũng có sự khác nhau về nhân thân người phạm tội. Sự khác nhau này xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu riêng dựa trên những tiêu chí khác nhau.
Trong đó có những quan điểm tiếp cận nhân thân người phạm tội dưới góc nhìn của luật hình sự còn có quan điểm tiếp cận dưới góc độ tội phạm học. Dưới góc độ luật hình sự, nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự. Vì vậy, nhân thân người phạm tội dưới góc độ nghiên cứu của luật hình sự không bao gồm tất cả các đặc điểm xã hội, tâm lý và sinh học của người phạm tội mà chỉ là những đặc điểm có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự. Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội trong luật hình sự nhằm làm rõ sự ảnh hưởng của các đặc điểm nhân thân người phạm tội đối với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và có ý nghĩa trong việc định tội, định khung và quyết định hình phạt.
Trong khi đó, nghiên cứu nhân thân người phạm tội từ góc độ tội phạm học không nhằm mục đích giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ mà nhằm mục đích làm sáng tỏ nguyên nhân, điều kiện phạm tội thuộc về nhân thân người phạm tội. Cụ thể nghiên cứu và làm sáng tỏ đặc điểm, tính chất và mức độ tác động của đặc điểm nhân thân trong cơ chế hành vi phạm tội, mối quan hệ giữa các đặc điểm sinh học và các đặc điểm xã hội của người phạm tội. Đây là những đặc điểm nhân thân có ý nghĩa đối với việc thực hiện tội phạm, phòng ngừa tội phạm và giáo dục cải tạo người phạm tội. Trong khuôn khổ tội phạm học, nhân thân người phạm tội được nghiên cứu trên một số khía cạnh như: Nhóm đặc điểm sinh học của người phạm tội như giới tính, độ tuổi,… 11 Nhóm đặc điểm xã hội như trình độ học vấn, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình,… Nhóm đặc điểm tâm lý phản ánh nhận thức xã hội của người phạm tội như nhu cầu, sở thích, hứng thú, ý thức pháp luật, định hướng giá trị,… Nhóm đặc điểm nhân thân phản ánh tính nguy hiểm của người phạm tội được quy định trong BLHS.
Trên cơ sở nghiên cứu nhân thân người phạm tội, ta có thể rút ra khái niệm nhân thân người phạm tội MT như sau: Nhân thân người phạm tội MT là sự thể hiện các đặc điểm cá nhân phản ánh quá trình sinh sống cá thể của người phạm tội đó, sự tồn tại cá nhân của họ được thể hiện bởi một số nội dung cụ thể của các mối quan hệ gia đình, trường học, xã hội… Đó là môi trường vi mô mà trong đó người phạm tội MT sống hoạt động và hình thành các đặc điểm nhân thân. Điều đó có nghĩa khi xem xét xử lý người phạm tội MT, một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua đó là nhân thân của họ, xem xét nhiều khía cạnh về nhân thân như độ tuổi, nơi cư trú, dân tộc, giới tính, trình độ học vấn, tôn giáo,… Như vậy, nhân thân người phạm tội MT là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu đặc trưng thể hiện bản chất của một người khi đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm MT. Đó là các đặc điểm về pháp lý hình sự, các dấu hiệu sinh học, nhân khẩu học, các đặc điểm về xã hội học, đạo đức, tâm lý. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội ma túy Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội MT mang ý nghĩa rất lớn cho công cuộc phòng ngừa tội phạm trong xã hội với các ý nghĩa sau: Thứ nhất, nghiên cứu nhân thân người phạm tội MT tạo cơ sở cho việc xác định nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm MT.
Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm MT được hiểu là mối quan hệ tương tác giữa những nhân tố chủ quan của con người (đặc điểm tâm, sinh lý, thói quen, tính cách,.) với các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài làm phát sinh tội phạm MT. Những yếu tố thuộc mặt chủ quan có thể làm phát sinh tội phạm MT là những sai lệch về nhu cầu, nhất là cách thức để thỏa mãn nhu cầu sẽ là động cơ thúc 12 đẩy việc thực hiện tội phạm, hoặc cũng có thể là do ý thức pháp luật hạn chế, không tôn trọng pháp luật, không thừa nhận giá trị xã hội đích thực của pháp luật, từ đó dẫn đến việc thực hiện tội phạm. Mặt khách quan bên ngoài có thể làm phát sinh tội phạm MT là những tình huống, hoàn cảnh bên ngoài thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm, có thể là hoàn cảnh kéo dài, hay một sự kiện có tính nhất thời, hoặc sự rủ rê, lôi kéo của người khác gây ra. Nguyên nhân sinh ra hậu quả, còn điều kiện không thể sinh ra hậu quả mà tạo điều kiện, bảo đảm cho hậu quả xảy ra [49, tr.
Các nguyên nhân và điều kiện trong sự tác động lẫn nhau đã tham gia vào quá trình hình thành đặc điểm tâm lý, đạo đức của cá nhân, quyết định động cơ và sự quyết tâm thực hiện tội phạm. Tất cả những điều đó được phản ánh trong nhân thân người phạm tội.